Tìm kiếm Blog này

Thứ Bảy, 2 tháng 7, 2011

        
    Giấc mơ trên vòm xanh


            

                                            

                                                                 Tản văn của Công Thế
Trong giấc ngủ chập chờn, tôi hay mơ, có những giấc mơ lãng mạn bay bổng dắt díu tâm hồn tôi về miền ký ức với bao điều thơ dại, có những giấc mơ làm tôi khiếp sợ khi tỉnh rồi không dám ngủ tiếp. Có những giấc mơ như mắc nợ với đời không đầu không cuối. Có giấc mơ hào sảng với một niềm tin cháy bỏng. Và như giấc mơ hồi hôm. Giấc mơ bay trên vòng xanh quê hương….
Ngoài trời lất phất mưa xuân, tiếng lách tách của giọt nước mái hiên như nhịp thở của thời gian, buồn buồn gõ vào đêm yên tĩnh, dường như sự tĩnh lặng của trời đất trong khoảnh khắc giao mùa có điều gì linh diệu kỳ lạ. Hãy nhắm mắt lại tĩnh tâm lắng nghe chiêm nghiệm, đúng rồi tiếng tí tách của mầm non đang cựa trên cành, tiếng của sự sinh sôi vạn vật đang chuyển mình theo vòng quay luân chuyển của tạo hoá.
Cây sấu đầu ngõ mùa nay đang kỳ thay lá, chỉ một làn hơi thở rất nhẹ của trời đất cũng đủ làm những chiếc lá vàng bay bay lìa xa cành bâng khuâng tiếc nuối. Tiếng lá rơi rất nhẹ trong thinh không hình như nó không muốn gây nên sự ồn ã làm mất đi sự tinh khiết của đêm tĩnh lặng. Để sáng ra ta đã thấy thảm lá vàng phủ quanh gốc. Lá vàng xào xạc làm nao lòng mỗi bước chân qua. Tôi nhiều khi hay nghĩ vẩn vơ, sao lá sấu lại trút vào cuối xuân đầu hạ? Sấu thay lá rất ý nhị, kín đáo, bẽn lẽn, thẹn thùng như thiếu nữ mới về làm dâu. Sự kín đáo đó khác hẳn với cách sỗ sàng trút bỏ hết “ xiêm y” như vài loài cây khác. Từng chiếc, từng chiếc lá cứ âm thầm lặng lẽ lìa cành, thay vào đó lại bật lên mầm xanh tươi mới. Sự chuyển giao, kín đáo, khiêm nhường, bạn tôi còn ví von hình tượng “ như sơn nữ tắm suối chỗ đông người” kín đáo, nhẹ nhàng, nước đến đâu, váy áo vén cao đến đó.
 Trong vòng khoảng năm đến bảy ngày lá già rụng hết vừa lúc cả vòm xanh nõn, chùm khắp tán, tầng. Và cũng là lúc những chùm hoa ly ti đã nhú đầu cành báo hiệu một mùa quả chua nấu dấm…
 Mỗi cây mỗi vẻ có loài trút lá hết vào mùa đông chỉ còn trơ lại những cành khẳng khiu buồn tẻ, có loài thay lá vào mùa thu khi heo may thoảng buồn.... Nhưng chung quy lại mọi sinh vật khi đông qua xuân đến hạ về tiết trời ấm áp bao trùm sự sinh sôi cùng nhau tung tẩy, đâm chồi nẩy lộc, hớn hở đón chào nắng mới. Sự khác biệt của từng cây, từng loài có những vòng sinh học khác nhau, đời cây cũng như đời người trong thế giới muôn hình muôn vẻ…
Trong miên man suy nghĩ, trong chập chờn mộng mơ tôi như thoát xác, như bay trên vòm trời cao mênh mông trong xanh, trên các vòm  xanh nõn nà hoa lá. Trong sự lãng du, hư hư, thực thực. Bay ở trên cao, tầm  nhìn như được rộng hơn, xa hơn bao quát hơn. Nói theo cách nhìn minh  triết, có tầm vĩ mô hơn. Không như ta nhìn ở mặt đất với tầm nhìn vi mô, có khi còn cho là tầm nhìn thiển cận.
Giấc mơ tôi đang bay trên chồi non e thẹn của hàng cây bàng xếp hàng ngay ngắn trên phố, bay trên màu xanh rì của hàng hoa sữa, với những chùm quả đang tách nở những hạt nhỏ có đôi cánh bông bông mầu nâu như đôi cánh thiên thần tí xíu, những hạt nhỏ mong manh đó lại có sức sống kỳ diệu, nương nhờ làn gió nâng đỡ, tung tẩy gieo sự sinh tồn lan xa.
Tôi bay trên lộc non tím hồng phơn phớt của lộc vừng, của bằng lăng. Tôi mê mải với màu tím hồng của lá non cây bằng lăng. Những mầm non nhỏ xíu non nớt run rẩy trong nắng mới, những mầm non lấn lướt trong sự ngơ ngác của những chùm quả khô mùa cũ còn đeo trên cành. Lộc non của bằng lăng nhìn như lá non của hoa mai, gợi cho tôi nhớ đến một mùa đông phương nam chan hoà nắng ấm…
Giấc mơ tôi bay xa hơn, cao hơn trên vòm xanh của đất nước. Màu xanh lan xa bất tận của sự sinh sôi no ấm phồn vinh. Màu xanh bát ngát của lúa đang thì con gái hứa hẹn mùa vàng bội thu. Cái màu xanh ấy lung linh đã cưu mang dân tộc ta qua hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước. Màu xanh mang danh vinh cho Quốc Thể của nền văn minh lúa nước và đưa nước ta đứng hàng nhất nhì về xuất khẩu lương thực trên thế giới, mỗi năm màu xanh ấy đem về hàng tỷ ĐÔLA Mỹ kim. Cây lúa gắn bó với dân tộc ta ngàn đời nay. Thử hỏi đất nước này mấy người khi sinh ra không từ nông thôn, ai cũng có một miền quê yên ả.
Ta sinh ra từ luống cầy của cha, từ mặt ruộng thánh thót mồ hôi mặn mòi của mẹ, từ mùi tanh của bùn đất, mùi thơm nồng rơm rạ ngày mùa. Màu xanh yêu thương làng quê che chở, nuôi dưỡng thành người, cho ta đôi cánh bay nhảy bôn ba muôn phương. Nhưng dù có đi đâu làm đến việc gì nữa thì cũng đừng quên hạt lúa củ khoai nơi thôn dã nuôi ta khôn lớn và đằm lòng câu ca “ Ai ơi bưng bát cơm đầy/ dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.”
 Đành rằng một nước phát triển là một nước có nền công nghiệp hiện đại. Không ai có quyền cản trở níu kéo sự phát triển đó.  Nhưng không phải là tất tất…Đừng phũ phàng vội vã mà mắc tội với màu xanh truyền kiếp. Đừng để màu xanh bờ xôi ruộng mật trở thành màu vàng úa chết chóc, hoang tàn, cát sỏi của những khu công nghiệp với những dự án treo, treo mãi, dự án trá hình… trong khi người dân thèm đất sản xuất, lao động thất nghiệp, nhìn đất mà tiếc, giá như…. Đừng để màu xanh của bờ xôi, ruộng mật thành màu cỏ ngoại được chăm sóc, tưới tắm hóa chất, trên sân gôn, trò chơi tiêu khiển đó chỉ giành cho số ít người và kẻ nhiều tiền.
Giấc mơ tôi bay theo rộng dài đất nước, từ miền xuôi lên miền ngược, từ màu xanh lam của đại dương lên màu xanh thẫm của đại ngàn, một màu xanh cho bao hy vọng và cũng có màu cho tôi nghĩ suy, trăn trở, nhiều khi thấy mong manh…Đâu rồi dòng sông thơ mộng xanh trong nơi tuổi thơ tôi tắm mát những chiều hè, còn đâu “ Cùng một bến sông con trâu đằm sông dưới/ Bảy trẻ thơ tắm mát phía thượng nguồn / Một dòng sông xanh chảy mãi đến vô cùng” (Thơ Lê Huy Mậu) Những dòng sông xanh đang bị đầu độc đã thành dòng sông chết đen ngòm, rác rưởi, hôi thối, mà nguyên nhân do con người gây nên.
Giấc mơ tôi bay trên các đại ngàn, những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn xưa kia nay loang nổ da báo, suy tàn bởi lòng tham của con người, mà thường gọi là giặc rừng “lâm tặc”. Bằng nhiều hình thức, nhiều kiểu, nhiều cách, núp sau các bức chướng để “cắt cổ” rừng. Nói vậy có thể chưa hoàn toàn đúng nhưng rừng đang bị xâm hại nghiêm trọng. Màu xanh của đại ngàn, tài nguyên của quốc gia kêu cứu. Màu xanh là cái nón đội đầu của đất nước, chiếc nón đó che chở khi trái gió trở trời được yên hàn. Màu xanh vĩnh cửu đem lại phồn vinh, yên bình…
Giấc mơ tôi bay trên vòm xanh rong ruổi đến mệt nhoài. Một giấc mơ thăng bằng và mất thăng bằng chấp chới. Cuối cùng giấc mơ đậu về vòm xanh cây sấu già thân cành xù xì, u bướu trước ngõ. Giật mình bừng tỉnh, cây sấu già…/.
                  
           
            Ngày đầu hạ năm Mão
                           C. T
                                Địa chỉ: Hội VH-NT Tỉnh Lào Cai

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

Đà Nẵng biển gọi

                                                 Bình minh trên bãi tăm Mỹ Khê
                                          Cùng sóng nước Sơn Trà
                                                  Mải mê ngắm chụp bình minh
                                           Và những người CN luôn làm sạch biển
                                              Hoàng hôn khuất sau đèo Hải Vân
                                             Ô nước biển mặn quá em sợ rơi kính và răng giả quá chị ơi

ký sự Dưới noc nha đông dương

Trên đèo Khau Co
                                                                            
ký sự của Công Thế
          Trong những lần đi điền dã, tôi thấy thú vị nhất vẫn là chuyến đi vòng quanh nóc nhà Đông Dương, chuyến đi này tôi khám phá và hiểu biết nhiều điều hơn tôi tưởng. Các vùng đất, cuộc sống, các bản làng và phong tục tập quán của các tộc người cùng cảnh sắc thiên nhiên dưới chân nóc nhà mang nhiều huyền thoại này còn bao điều mới lạ, kỳ bí. Như cho tôi đi ngược về cội nguồn văn hoá bản địa, ở đó tất cả là một bảo tàng sống thuộc nhều lĩnh vực khác nhau tuỳ theo sở thích phám phá của mỗi người. Tất cả cứ hiển hiện lên hồn nhiên, trong veo như mây ngàn gió núi, như cỏ cây hoa lá …
Những câu chuyện kỳ bí…






Bản Tu Thượng thuộc xã Nậm Xé Huyện Văn Bàn Lào Cai nằm  cheo leo trên lưng chừng núi,  gần chân đèo Khau Co. Đến đây ta còn được nghe, được biết những câu chuyện kỳ bí. Có câu chuyện đã trở thành truyền thuyết đầy ly kỳ khó tin. Những lời đồn đặt đó đã trở thành nỗi sợ hãi, khiếp đảm, cho bao người. Lời đồn thổi như cơn gió độc lan truyền ra khắp vùng Tây Bắc rằng“Người Mông xanh trên đèo khau co ăn thịt người” ấy là câu chuyện đã có cách đây mấy mươi năm nay. Những lời truyền ác nghiệt đã đeo bám như vòng kim cô thít vào thân phận người Mông xanh bản Tu Thượng, đã đẩy làng người Mông xanh thành “ Ốc đảo” bị cô lập với thế giới cộng đồng, các tộc người khác xa lánh khiếp sợ.
Theo già làng cụ Vàng Thị Ly kể lại, thời thực dân Pháp đô hộ dân bản vô cùng cực khổ. Ngày ấy dân bản hay săn bắn được thú rừng, theo lệ phải cống nạp cho quan Pháp. Một hôm bẫy được con Căng (theo tiếng địa phương) đó là một loài linh trưởng quý hiếm có tên trong sách đỏ mà hiện nay đang bảo tồn có nguy cơ tuyệt chủng “T.G”. Nhưng vì dân làng đói quá đem thịt ăn. Nghe tin dân bản bẫy được thú quí bọn chúng mò lên, khi quân Pháp đến khám xét mọi người đành nói dối là đói quá không còn gì ăn đành đem luộc thịt đứa trẻ con bị ốm, để ăn. Bọn Pháp không tin xông vào bếp dùng lưỡi lê hất tung lắp phên đậy chảo ra, trong màn khói mờ ảo của chảo nước đang sôi sùng sục, thấy đôi bàn tay con thú giơ lên, trắng hếu lộ ra như tay đứa trẻ, mấy tên lính Pháp phồng mồm, trợn mắt quáng quàng chạy mất hút. Mẹo cứu đói, giành thịt đã thành lời đồn đại oan nghiệt cho người dân Mông xanh Tu Thượng, lời đồn oan nghiệt đã theo vết giầy của lính Pháp lan truyền đi khắp vùng Tây Bắc. Từ đó người Mông xanh Tu Thượng phải sống co cụm không giao tiếp với các tộc người khác, bị xã hội xa lánh tẩy chay. Trai gái trên bản Tu Thượng nơi mù sương này đến tuổi trưởng thành lấy lẫn nhau kể cả anh em cận huyết thống. Dẫn đến những tác hại suy kiệt ảnh hưởng đến giống nòi. Những đứa trẻ sinh ra chậm phát triển trí tuệ , hay mắc các bệnh như bại liệt, thần kinh…những thanh niên trưởng thành chiều cao chỉ khoảng 1,5 mét. Tác hại của hôn nhân cận huyết còn ảnh hưởng nhiều thế hệ cho đến ngày nay.
Cũng có chuyện kỳ bí kể về người Mông xanh có phong tục thực táng. Điều này đã kích thích trí tò mò, tôi luôn để tâm tìm hiểu. Đã nghe và đọc sách báo, các tài liệu. Thực tế trên thế giới có nhiều cách mai táng người quá cố khác nhau, tuỳ theo phong tục, tập quán tín ngưỡng, tôn giáo của từng tộc người. Ngoài những cách thông thường còn có những hình thức mai táng lạ. Ở vùng Tây Tạng Trung Quốc xưa có phong tục thiên táng,( điểu táng) đó là hình thức mai táng kỳ lạ man rợ. Khi người thân qua đời họ tiến hành các thủ tục nghi lễ cúng bái rất cầu kỳ cốt cho linh hồn người chết được siêu thoát rời bỏ thể xác. Các thủ tục, nghi lễ xong, những thanh niên trai tráng đem xác người chết lên trên núi cao chặt nhỏ tãi phơi trên núi đá để một loài chim đến ăn, vậy là xác người được lên trời xanh theo mây khói. Hình thức thuỷ táng thì tương tự như thiên táng chỉ khác là họ thả xuống dòng sông cho cá ăn. Bên Ấn Độ đến ngày nay vẫn còn phong tục đưa người chết trên bè gỗ rồi hoả táng trên đoạn Sông Hằng linh thiêng nhất, họ quan niệm như vậy thì những linh hồn người chết sẽ được mát mẻ, may mắn như một đặc ân về cõi vĩnh hằng.
 Một vài hình thức mai táng lạ trên đến nay chỉ còn là những câu chuyện truyền thuyết. Còn người Mông xanh Tu Thượng có tục thực táng ( ăn thịt người chết) hay không thì cho đến nay vẫn chưa có cơ sở nào khẳng định, đó chỉ là những lời đồn đặt nhảm nhí dựa theo câu chuyện thịt thú rừng như ở trên. Ở Tu Thượng cũng như các bản làng vùng cao Lào Cai ngày nay cuộc sống đang thay đổi từng ngày các hủ tục, lạc hậu đã được bài trừ, người dân đang được sự quan tâm của Đảng và nhà nước bằng các chính sách như chương trình 135, 134,… các hạ tầng cơ sở được cải thiện, điện, đường, trường trạm. Tất cả đã làm thay đổi diện mạo của nông thôn miền núi. Đời sống văn hoá mới như những cơn gió mát lành thổi khắp vùng cao lũng thấp.
Có thời gian còn rộ lên những câu chuyện kể về nguồn gốc người Mông xanh Tu Thượng trên đèo Khau Co, Nậm Xé Văn Bàn là người AiNu bên Nhật Bản. Đây cũng là câu chuyện trong màn bí ẩn. Trong dịp đi này tôi không thể không quan tâm và tìm tòi các nguồn thông tin từ chính những người dân nơi đây. Đến bản Tu Thượng được nghe những người già họ thường kể lại cho con cháu nghe, tổ tiên của họ có nguồn gốc từ đất nước mặt trời mọc. Xét về phương diện từ trang phục, dáng mạo, âm ngữ có những nét tương đồng với người Nhật Bản. Trong lúc trò chuyện vui vẻ với ông Vàng A Dính, chủ tịch hội nông dân xã Nâm Xé về nguồn gốc của dân tộc minh và cuối cùng ông kết lại câu nói đầy hào sảng và chí lý pha chút hóm hỉnh: Chúng tôi ở dưới chân núi Hoàng Liên Sơn của Việt Nam là người dân tộc Việt Nam. Câu nói làm cho chúng tôi sững sờ vì nó chính xác đến trăm phần trăm, chẳng có gì phải bàn nữa… Cho đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm thấy ở nơi nào khác có người Mông xanh như ở đây. Có tài liệu cho biết người Mông xanh di cư đến Nậm Xé Văn Bàn vào khoảng từ năm 1840 thời Thái Bình Thiên Quốc. Lại tài liệu nói họ di cư đến đây khoảng 300 năm. Tuy nhiên theo các nhà xã học thì câu chuyện trên vẫn chỉ là các giả thuyết chưa sáng tỏ
Hiện người Mông xanh ở xã Nậm Xé có gần 80 hộ với hơn 300 khẩu, cùng ba dòng họ chính là họ Vàng, họ Giàng, họ Lý. Trước tình trạng hôn nhân cận huyết thống như trên, chính quyền ở đây đã vào cuộc bằng tuyên truyền vận động nhân dân xóa bỏ các hủ tục lạc hậu. Trai gái kết hôn phải đăng ký, nếu cùng dòng tộc chưa qua ba đời thì kiên quyết vận động  thực hiện hôn nhân theo đúng pháp luật. Từ đó nhận thức của người dân được nâng cao hiểu biết, nhiều người đã tham gia học tập công tác tại địa phương và giao lưu rộng như anh Lý A Tim cán bộ tư pháp xã Nậm Xé đã phá bỏ các hủ tục anh đã xây dựng gia đình với cô gái Tày xinh đẹp làm vợ. Từ năm 2008 đến nay tình trạng hôn nhân cận huyết đã được xoá bỏ. Trên bản Tu Thượng hôm nay đã thấp thoáng xuất hiện những cô gái thuộc các dân tộc khác về làm dâu và những sơn nữ Mông Tu Thượng cũng đã rời bản làm dâu sứ khác. Những thế hệ nối tiếp người Mông xanh tại Tu Thượng đã mang hai dòng máu. Thế hệ này sẽ kế tiếp cha ông xây dựng cuộc sống  của mình trên vùng đất dưới nóc nhà Đông Dương này ngày một ấm no, giầu đẹp. Tạm biệt bản Tu Thượng trong mây chiều bảng lảng, trong tiếng suối reo rộn rã của thượng nguồn đang ào ào tuôn chảy đổ vào nguồng quay tua bin của nhà máy thuỷ điện Nậm Khoá 3. Cuộc sống của người dân đang đổi thay hướng về ngày mới.
                                                 C.T.  4/2011

                                     

Thứ Tư, 29 tháng 6, 2011

Ký sự dưới nóc nhà Đông Dương

Trên đèo Khau Co
                                                                            
Ký sự của Công Thế
          Trong những lần đi điền dã, tôi thấy thú vị nhất vẫn là chuyến đi vòng quanh nóc nhà Đông Dương, chuyến đi này tôi khám phá và hiểu biết nhiều điều hơn tôi tưởng. Các vùng đất, cuộc sống, các bản làng và phong tục tập quán của các tộc người cùng cảnh sắc thiên nhiên dưới chân nóc nhà mang nhiều huyền thoại này còn bao điều mới lạ, kỳ thú. Như cho tôi đi ngược về cội nguồn văn hoá bản địa, ở đó tất cả là một bảo tàng sống thuộc nhều lĩnh vực khác nhau tuỳ theo sở thích phám phá của mỗi người. Tất cả cứ hiển hiện lên hồn nhiên, trong veo như mây ngàn gió núi, như cỏ cây hoa lá …
                                         Những kỳ thú…





         Đèo Khau Co là một trong những thắng cảnh mà trên cung  đường tôi đi qua. Con đèo nằm ở phía nam của hùng sơn PanXiPang, tuyến đường chiến lược huyết mạch quốc lộ 279, đoạn nối liền huyện Than Uyên của Tỉnh Lai Châu và Huyện Văn Bàn Tỉnh Lào Cai. Những gì mắt thấy tai nghe, những điều chiêm nghiệm về con người và cảnh sắc Khau Co làm tôi ấn tượng khó quên.   
Nhiều người biết đến đèo Khau Co trên thực tế hoặc qua báo chí, qua những câu chuyện kể. Nói về Khau Co là nghĩ đến sự hiểm nguy, đường quanh co hiểm trở, vực sâu dốc cao, với mây mù bao phủ quanh năm. “Khau Co, Khau Phạ, Khau Riềng/ Trong ba khau đó thì kiềng Khau Co”. Câu ca đó đã có từ lâu, kể tên ba con đèo quanh co hiểm trở của Tây Bắc và cũng ngầm ý nhắc nhở ta đèo Khau Co vẫn là hiểm trở nhất. Nhắc đến Khau Co người ta nghĩ ngay đến mảnh đất thừa gió, thiếu nắng. Gió ở đây thật khủng khiếp, gió rít ngày rít đêm, gío làm nghiêng ngả, bẻ cành vặt lá, gió làm chốc gốc, bốc rễ cây cối, nhất là mùa gió Lào, gió làm te tướp, xướp xơ cỏ cây, gió đúng với tên gọi của con đèo. Khau Co theo hệ ngữ Tày, Thái nghĩa là “ Đèo Gió”. Sự vắng vẻ, quạnh hưu của rừng nguyên sinh rậm rạp, của lam sơn chướng khí. Sự đỏng đảnh bất thường của thời tiết nơi đây và cả những nỗi lo sợ bất chắc dọc đường, đã làm lên một Khau Co nhiều huyền bí.
Trên đỉnh Khau Co đến nay vẫn còn những dấu tích nơi đồn trú của chủ nghĩa thực dân Pháp. Chúng chiếm Khau Co xây đồn cho quân án ngữ vì thấy đây là vị trí lợi hại quan trọng về mặt quân sự, hòng chặn đường tiếp tế, liên lạc của ta với Than Uyên và vùng Tây Bắc với chiến trường Điện Biên Phủ. Chúng còn ý đồ lấy nơi đây làm bàn đạp đánh chiếm Văn Bàn và các huyện phía đông tỉnh. Nhưng chúng chưa thể thực hiện được ý đồ đó thì đã bị quân và dân Huyện Văn Bàn xóa sổ trước. Theo tài liệu lịch sử đảng bộ Văn Bàn chép: Ngày 27/10/1946 quân ta chiếm đánh đồn Khau Co, chỉ huy trận đánh là đồng chí Vạn Lịch và Nguyễn Đình Tấn, do ông Sầm Văn Khèo người xã Minh Lương dẫn đường. Quân ta chia làm 3 hướng luồn rừng bí mật áp sát tiến công đồn địch, bất ngờ bị ta đánh úp chúng không kịp trở tay đối phó, Một trung đội Âu Phi và một số lính dõng cầm cự không nổi đã nhanh chóng tan dã, một số tên chết, một số bị ta bắt làm tù binh, ta thu toàn bộ trang bị, vũ khí, đạn dược, trong đó có 17 khẩu súng trường, 4 tiểu liên, 3 trung liên, 2 Moóc-chi-ê, 1 đại liên.
Trận đánh này là tiếng súng đầu tiên mở màn cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của tỉnh Yên bái lúc bấy giờ, trước ngày có lệnh toàn quốc kháng chiến 19/12/1946. Chiến thắng Khau Co còn in đậm mãi trong tâm trí người dân nơi đây, trong lịch sử giải phóng dân tộc chống giặc ngoại xâm của quân và dân Huyện Văn Bàn. Khau Co (Đèo Gió) ngày nay không còn heo hút, đã bớt nguy hiểm, đường đã được rộng mở, đỉnh đèo vẫn hùng vĩ và sừng sững với mây ngàn, gió núi, Quốc lộ 279 đã được nhựa hoá vắt qua đỉnh Khau Co, trông như một tấm thảm nhung chào mời du khách. Nỗi lo lắng, sợ hãi qua đèo bây giờ không còn nữa, mà Khau Co đã trở thành điểm thu hút khách thập phương qua lại và dừng nghỉ ngắm cảnh sắc hữu tình nơi đây.
           Song đến Khau Co để có dịp được chiêm ngưỡng những khoảng khắc đẹp kỳ thú trên đỉnh mù sương lộng gió này thì không phải ai cũng biết và cũng không phải lúc nào cũng may mắn gặp. Nếu ai đó chỉ cần một lần được chiêm ngưỡng vẻ đẹp đến sững sờ khi hoàng hôn xuống cũng đủ để nhớ mãi, sẽ là những kỷ niệm khó phai. Để chiêm ngưỡng những khoảnh khắc đó khi ta đứng từ đỉnh đèo nơi “ Cửa Gió” trên độ cao 1300m so với mực nước biển nhìn về phía tây vào những ngày đẹp trời. Sau một trận mưa rào, trời trong xanh, mặt đất ẩm ướt, hơi ẩm bốc lên ngùn ngụt, thời điểm ấy thường xuất hiện vào lúc giao mùa giữa hạ sang thu. Khi màn mây mù đã mỏi mệt, quên rong chơi chúng rủ nhau xúm đặc lại chìm thấp xuống, bay là là, luồn lỏi vào các lũng sâu, (người ta gọi là mây luồn), rồi bò tràn xuống các nấc ruộng bậc thang đang mùa trĩu hạt vàng óng. Lúc mặt trời đỏ mọng như chảo lửa từ từ chui xuống biển mây trắng bồng mềnh, khuất lấp xuống cánh đồng Mường Than xa tắp, dáng đỏ của mặt trời hắt khúc xạ lên biển mây thành màu ngũ sắc, bắc những cầu vồng đan lồng vào nhau. Các vầng mây ngũ sắc đó lúc cuộn lên, lúc nhào xuống, khi tản ra, lúc xụm lai, khi đứng khi ngồi, tạo ra muôn hình vạn trạng, vẽ lên những cảnh sắc đẹp đến mê hồn. Mây bay bồng bềnh dưới chân đưa cảm giác con người như chao nghiêng theo làn mây, tựa như đang sống chốn bồng lai tiên cảnh. Những khoảnh khắc đó đã làm mê hoặc biết bao lữ khách. Chẳng vậy mà dân “Phượt” đã xếp Khau Co là điểm đến trên cung đường những con đèo “ Khủng” của Tây Bắc khó bỏ qua.


Khau Co là vùng lõi của rừng đặc dụng trong khu bảo tồn đa dạng sinh học vườn Quốc gia Hoàng Liên đã được công nhận là vườn di sản thiên nhiên ASEAN. Vườn Quốc gia Hoàng Liên được đánh giá là một trong những trung tâm đa dạng sinh học vào bậc nhất ở nước ta. Tôi đã có bài viết “Những báu vật trong rừng Hoàng Liên” nên không bàn sâu về tiềm năng rừng trong bài nay. Trong chuyến đi lần này tôi lại phát hiện thêm một điều thú vị nữa, đó là một tiềm năng mà trời đã phú cho Khau Co là khí hậu mát lành mà nay con người ở đây đã và đang biến cái của trời cho, phát huy  ứng dụng khoa học để phát triển nghề nuôi cá nước lạnh rất hiệu quả (cá hồi vân). Trại nuôi cá hồi vân trên đỉnh Khau Co lại do chính những người gác rừng đặc dụng Hoàng Liên phát triển. Cái hay là những người làm công tác bảo tồn rừng đã biết biến cái giá trị bảo tồn phát triển lên thành giá trị kinh tế củng cố tính bảo tồn càng bền vững. Chủ dự án do anh Phạm Đăng Hải trạm trưởng trạm kiểm lâm đèo Khau Co chủ trì. Anh Hải tâm sự: Suốt 32 năm gắn bó với nghề gác rừng thường xuyên phải ở những nơi heo hút khó khăn nhưng cái nghiệp đã vận vào đời, ở rừng mãi nên yêu rừng nếu xa là nhớ, trống trải lắm! Nhiệm vụ chính của các anh là tuần tra canh gác, tuyên truyền nhân dân về công tác bảo vệ rừng, trạm kiểm lâm của anh gồm có 4 người được giao nhiệm vụ quản lý 22 nghìn hec ta, trong đó có 12 nghìn hec ta là rừng đặc dụng trong khu bảo tồn ASEAN. Địa bàn rộng, lực lượng mỏng nên công việc của các anh không những vất vả mà còn hiểm nguy, nhiều khi phải đối mặt, tuyên chiến với những kẻ “đầu trâu mặt ngựa” ngày đêm rình mò “moi gan, rút ruột” rừng. Trong những năm gần đây nhờ được các chính sách, sự giúp đỡ của các cấp các ngành địa phương tuyên truyền, sự nhận thức của người dân được nâng cao nên rừng đã có phần lắng dịu yên hàn hơn trước.
Sau những ngày đi tuần rừng về, những thời gian rảnh rỗi, nhìn dòng suối trước trạm chắt những dòng nước mát lạnh từ lòng núi quanh năm chảy róc rách. Rồi anh chợt nhớ lần sang Sa Pa công tác và được anh bạn chiêu đãi cá hồi. Vậy là anh lao vào tìm hiểu và tính toán. Cũng phải mất một thời gian trăn trở, tính toán, nghiên cứu và nhận thấy điều kiện  khí hậu ở đây phù hợp với việc nuôi cá hồi, đặc biệt nguồn nước rất đảm bảo như độ lạnh, nồng độ ô xy hoa tan và nguồn nước luôn ổn định không ô nhiễm. Rồi anh đi tham quan học hỏi kinh nghiệm các cơ sở nuôi cá hồi ở Sa Pa , Lai Châu bên đèo Hoàng Liên. Được sự giúp đỡ của trung tâm ứng dụng khoa học công nghệ, trung tâm phát triển thuỷ sản Lào Cai. Anh Hải mạnh dạn đầu tư tiến hành làm hồ nuôi thử nghiệm, qua lứa cá nuôi thử thấy kết quả tốt, anh đã lên kế hoạch xây dựng dự án được trung tâm khuyến khích ứng dụng khoa học công nghệ Lào Cai ủng hộ và đưa dự án của anh vào chương trình. Tổng chi phí dự án lên đến 622 triệu đồng trong đó được sự hỗ trợ của chương trình 60 triệu đồng sau hơn một năm thực hiện đã thu được kết quả đáng khích lệ đến năm 2010 anh đã thu hơn 3000 kg cá thịt. Anh tiếp tục thả, nuôi đợt 3, đợt 4 cho đến nay quí 1/2011 tổng sản lượng cá thịt anh thu đã trên 5300 kg tổng doanh thu lên đến gần 1,7 tỷ đồng. Theo anh Hải cho biết  khu trại nuôi cá của anh hiện đã được các cấp có thẩm quyền cho phép mở rộng diện tích nuôi thả, hiện dự án đã thành lập  thành Công ty Sơn Hải đã được duyệt cấp đăng ký. Vậy là cái nghiệp đã gắn với anh thật. Anh sẽ gắn bó với rừng và quyết trí không chỉ làm giầu ngay trên đỉnh đèo heo hút gió này mà còn  vì một nghĩa nữa là yêu mến, ân nghĩa với  rừng.
          Nhìn hồ cá tung tăng bơi lội, mỗi hồ, mỗi lứa cá khác nhau đều tăm tắp, loại đã đến kỳ xuất bán loại đang nuôi trưởng thành, vỗ béo, có loại nhỏ bằng ngón tay là cá giống mới chuyển về tất cả cứ nhao nhao, chao lượn theo dòng nước xoáy trông đến vui mắt. Đang dẫn chúng tôi tham quan hồ cá, thấy mấy chiếc xe con dừng dưới đường anh Hải nói: Các bác thông cảm em xuống đón khách, tí nữa anh em mình vừa lai rai vừa chuyện tiếp. Nhìn những du khách trong cái bắt tay thân mật, rồn rã, biết là khách quen. Ngước lên sườn đồi trong mấy cái lán, sàn nứa lợp cọ trông rất dân dã, đã thấy mấy mâm khách đang thưởng thức món đặc sản lẩu cá hồi. Nhìn lướt qua xe và các gương mặt thấy láng mượt đoán chắc là các đại gia bên Lai Châu sang hoặc các ông chủ của mấy công trình thủy điện…
 Các món sơn hào ở đây qua bàn tay của các đầu bếp nơi đèo gió phục vụ trông rất hấp dẫn và chắc chắn là “ Thóc thật”. Trong màn sương mờ ảo, hơi lạnh bò sau lưng nhồn nhột, không gian thật là lãng mạn, trong lời thì thầm của gió, trong tiếng rủ rỉ của rừng đại ngàn, thi thoảng tiếng tắc kè điểm nhịp trong hang đá vọng lại, dòng suối trong xanh róc rách reo vui và tiếng chim hoạ mi lảnh lót. Ngồi trên đỉnh Khau Co làm “Thượng Đế” uống rượu với lẩu cá hồi như thế thì quả là một điều kỳ thú trên đỉnh Khau Co.
                                                C.T
 “ Kỳ sau: Những câu chuyện kỳ bí…”  

Bút ký

BẢN TRẺ
Bút ký của: Nguyễn Xuân Mẫn

Mỗi thôn bản ra đời thường kèm theo từ MỚI vào thôn bản ấy. Đồng bào các dân tộc thiểu số ở Lào Cai gọi bản mới là Sín Chải còn người Kinh lên khai hoang đặt tên bản là Tân Hào, Tân Sơn... Gần đây, ở xã Trịnh Tường, huyện Bát Xát hình thành một bản mới đã có 50 mái nhà với đầy đủ ý nghĩa trong công việc, tuổi đời và phong cách của cư dân đều mới và trẻ khoẻ. Đó là Làng Thanh Niên lập nghiệp.

Ở nông thôn miền núi, đánh vật với ruộng, rừng, nương bãi nhưng không ít đôi vợ chồng trẻ khi ra ở riêng, vốn liếng của nả có là bao. Nhiều gia đình cố gắng thì bố mẹ cũng chỉ chia cho một vài sào ruộng, một con trâu và hai gian nhà tạm. Ra ở riêng, gà chưa kịp gáy lần thứ ba gọi mặt trời, vợ chồng trẻ đã lục tục khua nhau dậy, vội vàng nấu nướng, ăn uống, cho lợn gà ăn, hối hả đưa con đi học rồi tất tả đóng cửa đi làm. Hay làm, giỏi nghĩ, chịu bòn nhặt cũng phải dăm ba năm sau mới không phải thắp hương thờ con ma nghèo ngồi chắn cửa. Đâu chỉ là nỗi trăn trở của các ông bố bà mẹ mà còn là nỗi lo toan của hệ thống Đoàn thanh niên nên nhiều năm nay tuổi trẻ cả nước dấy lên phong trào “Thanh niên lập nghiệp”.
Chị Hà Thị Nga, bí thư tỉnh đoàn Lào Cai lên làm dâu trên miền đất biên cương này. Mười lăm năm gắn bó với Lào Cai, chị thấy thân thiết như Piềng Vế, huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình quê mình. Nơi nào xa xôi khó khăn nhất đều có bàn chân của người phụ nữ dân tộc Thái ấy. Năm năm trước trở lại công tác đoàn, việc đầu tiên chị nghĩ đến là muốn phong trào “Thanh niên lập nghiệp” có hiệu quả, Đoàn phải có nội dung hoạt động rõ ràng hơn ở vùng cao. Tâm tư của chị được ban thường vụ rồi ban chấp hành tỉnh Đoàn ủng hộ và trở thành nghị quyết của tỉnh Đoàn là xây dựng “Làng thanh niên lập nghiệp”. Hai hiệu quả lớn được đặt ra trong dự án là: Kinh tế và nếp sống công nghiệp. Chỉ có mấy từ ấy nhưng chị Nga và các cán bộ tỉnh đoàn phải lặn lội khắp các huyện để tìm chọn địa điểm. Việc đầu tiên là phải có diện tích rộng trên dưới một nghìn héc ta để có đất cho các bạn vào bản trẻ sản xuất. Tiếp đến là nơi ở phải tương đối quần tụ vừa bảo đảm cho sản xuất lẫn sinh hoạt hàng ngày. Đi đến đâu tìm cũng thấy đất lúa, đất ngô và đất rừng đều có chủ hoặc không canh tác được. Mấy năm liền xây dựng với nhiều lần được sửa chữa điều chỉnh và báo cáo lên tỉnh ủy, ủy ban nhân dân tỉnh, lên Trung ương đoàn thẩm định. Cuối cùng dự án Làng thanh niên lập nghiệp Trịnh Tường  với quy mô 100 hộ được phê duyệt và cấp kinh phí thành lập.
 Xã Trịnh Tường có hơn 5.500 nhân khẩu thuộc 5 dân tộc Mông, Giáy, Dao, Kinh và Hà Nhì. Xã có 21 thôn bản như: Tùng Chỉn, Bản San, Phìn Ngan, Phố Chợ… Không phải mỗi địa danh ấy chỉ dành cho một bản mà có tới hai hay ba bản cùng tên gọi vì mỗi năm cũng có chừng vài chục cặp vợ chồng trẻ ra ở riêng. Chính quyền từ xã xuống đến các thôn bản và những ông bố bà mẹ có con muốn ra ở riêng đang loay hoay thì gặp ngay những bàn chân của các cán bộ tỉnh đoàn Lào Cai đi tìm đất lập làng. Nào ngờ hai cái bí gặp nhau lại hợp thành một thế đi thuận lợi để hình thành làng thanh niên, ngôi làng thứ 22 của Trịnh Tường. Không hiểu tình cờ hay mọi người chủ định mà vùng đất Trịnh Tường hôm nay gặp cơ may để rừng núi có nhiều tiền như ước nguyện của cha ông khi đặt tên vùng quê mình là Sền Siềng có nghĩa là tiền dài, tiền lớn.
Ngày 26 tháng 3 năm nay giữa tiết xuân phân, đúng vào ngày kỷ niệm thành lập Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh; cả Trịnh Tường rực rỡ cờ hoa khởi công xây dựng làng thanh niên lập nghiệp. Trụ sở của làng trẻ được nằm trên sườn núi nhìn về hướng tây nam. Làng thanh niên được chia thành ba xóm nhỏ, một ở ngay trụ sở nằm trên đất Vĩ Lầu, một ở Bản Tàng cách đó gần hai cây số và một xóm nữa ở thôn Tấn Tiến ngoài bãi sông xa bốn cây số.
Hơn 1.000 héc ta gồm cả đất canh tác nông nghiệp và rừng sản xuất.của làng thanh niên rải ra nằm trong gần 8.000 héc ta xã Trịnh Tường. Trước ngày thành lập làng, không ít thanh niên ngần ngại về nhiều lẽ. Việc đầy tiên vẫn là làm ăn trong làng trẻ có thể giàu lên được hay không vì chuyện việc làm đều nằm trong kế hoạch chặt chẽ của ban quản lý làng? Mọi hoạt động và sinh hoạt trong khuôn khổ tác phong công nhân chặt chẽ như quân đội thì những thời gian cần cho việc cưới xin, ma chay, thăm hỏi…  trong họ ngoài bản cũ sẽ bố trí ra sao? Họp thôn bản nghe phổ biến, nhiều người càng thấy rất ngại bởi tiêu chuẩn vào làng thanh niên rất chặt chẽ. Phải có gia đình và dưới ba mươi lăm tuổi, chỉ có không quá hai con, phải có văn hoá phổ cập trung học cơ sở… Chí trẻ giúp lớp trẻ Trịnh Tường vượt xa khỏi tầm suy nghĩ quẩn quanh xưa nay của cha ông. Mấy anh người Mông Bản Tàng, xuống xã hỏi cách làm đơn vào làng thanh niên. Ở Bản Mạc, phố chợ và cả thôn Tân Tiến; các chàng trai cũng ướm sức mình rồi gặp trưởng thôn hỏi kỹ tiêu chuẩn đi làm công nhân làng thanh niên. Một cuộc trao đổi nương bãi diễn ra giữa các gia đình trong xã để vừa thuận tiện cho đất sản xuất vừa bố trí thổ cư quây quần một khu vực. Tuy vào làng thanh niên nhưng người Mông Bản Tàng vẫn ở quây quần gần bản cũ. Thanh niên Dao, Hà Nhì và Kinh thôn Tân Tiến vẫn sinh sống ngay trên vùng hồ Bản Mạc xưa kia để làm nương làm bãi.  Trong dự án, làng được cấp 500 triệu đồng mua một xe ô tô vừa để vận chuyển vừa phục vụ công tác nhưng suy nghĩ của lớp trẻ bao giờ cũng đầy sức sáng tạo. Số tiền ấy được lăng xê sang chiếc máy xúc KOMASU. Máy về làng đã khoe sức trẻ của mình khi san nền nhà ở cho công nhân. Với công suất một giờ san đào được 80 mét khối, chàng lực sĩ Nhật ấy tiếp tục trổ tài tham gia mở đường băng hơn 85 héc ta cao su, mở đường ô tô cho làng trẻ và cho xã. Còn vô khối công việc mở nương bậc thang trồng chè, trồng cây ăn quả, rừng sản xuất cho bản trẻ đang chờ chiếc gầu xúc khoẻ như một trăm con ngựa ấy.
Những ngôi nhà mới xây mọc lên mỗi nơi mỗi kiểu dáng khác nhau. Hai chục gia đình trẻ người Mông Bản Tàng vốn nằm trong diện hộ nghèo nên với 30 triệu đồng nhà nước hỗ trợ và công sức của vợ chồng, nhờ họ hàng giúp đỡ cũng có được ngôi nhà ba gian xây cấp bốn rộng 50 mét vuông có buồng, có hai gian ngoài rộng rãi. Hôm vợ chồng anh con trai dọn xuống nhà mới ở bản trẻ, ông Sùng A Sài ôm chặt lấy anh Bùi Quốc Phi, phó ban quản lý dự án làng thanh niên mà dân dấn nước mắt: “Vợ chồng mình nghèo nhiều lại đẻ đông tới năm đứa con, nếu không có   đoàn thanh niên giúp đỡ, chẳng bao giờ thằng Sùng A Ca nhà mình mới có cái nhà bằng gạch này”. Cánh thanh niên người Giáy ky cóp vốn liếng, vay mượn anh em, dồn thêm tiền làm ngôi nhà to hơn nhà của bố mẹ trong bản cũ. Ngay cổng vào trụ sở làng là ngôi nhà bề thế của Lý Văn Tỉn, người Bản Mạc tính sơ sơ tới 145 triệu đồng vì có đủ phòng khách, phòng ở, bếp, chuồng lợn, chuồng gà và đầy đủ mọi tiện nghi trong công trình vệ sinh như nhà ngoài phố tỉnh. Lớp trẻ học được nhiều điều hay cái mới nhưng vẫn giữ nguyên truyền thống của cha ông. Nhà thanh niên Giáy hay Mông vẫn đóng trên cửa ra vào mảnh vải đỏ cầu may và dán đôi câu đối đỏ bên bàn thờ. Dù xây nhà ống nhưng nhà các thanh niên  Giáy, cửa ra vào vẫn nằm giữa nhà để bàn thờ ma ông ma bà được nhìn thẳng ra phía trước. Nhiều căn buồng nhà thanh niên người Mông không để cửa sổ vì lý của ông bà dặn nơi dành cho phụ nữ cần kín đáo.     
Vào làng thanh niên nhưng ngày ngày vợ vẫn cấy lúa ruộng nhà, trồng ngô sắn nương nhà, vẫn nuôi lợn gà. Ngoài bãi sông Tân Tiến vẫn trồng chuối, ớt, cà chua trong chương trình liên kết của xã với các doanh nghiệp. Hàng ngày chồng cùng công nhân làng lên đồi trồng cây lâm nghiệp, đào hố trồng cao su. Mọi phần việc đều giao khoán cụ thể tới từng nhóm và người công nhân. Khi công việc của làng  cần là cả hai vợ chồng cùng đi làm. Sống với cây với đất nên công nhẹ việc nặng đều có tất từ phát cỏ, san nương, đào hố, đóng bầu đất ươm cây…Sức trẻ với tính cần cù chịu khó nên họ dễ dàng đạt và vượt chỉ tiêu mỗi tháng hai mươi sáu ngày công, để lĩnh mỗi tháng 1,9 triệu đồng. Số tiền ấy nếu ở bản cũ thì làm ăn tối mặt ngoài ruộng trên nương cả hai vợ chồng cũng không có nổi.
Vào làng thanh niên nên nếp sống thay đổi khác ngày còn trong bản cũ. Dù vẫn người trong xã trong bản cũ nhưng mọi sinh hoạt đã thành nếp mới tiến bộ và rõ ràng. Những buổi họp làng, họp tổ không phải chờ đợi quá lâu, không có khuôn mặt rượu phừng phừng. Mọi chuyện bàn bạc cũng dứt khoát rõ ràng xoáy sâu vào năng suất lao động, vào thời vụ trồng trọt, không e ngại cầm chừng như trước. Ai làm đúng biểu dương và học tập làm theo, ai còn thiếu sót góp ý chân tình thẳng thắn. Tác phong công nghiệp đã hình thành ở mỗi việc làm và cả khi họp hành nói với nhau bằng tiếng trong dân tộc. Những đứa trẻ con của làng đi học đều hơn và tiến bộ hơn và không rụt rè như trước. Chúng luôn tự hào với bạn bè bản cũ vì được làm cư dân tý hon của làng trẻ. Đêm tết trung thu năm nay, gần một trăm cháu con công nhân và hơn một trăm cháu mấy bản xung quanh về vui chơi ở sân trụ sở làng thanh niên. Vẫn là những đứa trẻ người Mông, người Giáy, người Hà Nhì nhưng từ cách đi đứng, chào hỏi nhanh nhẹn bạo dạn hơn trước. Cháu Sùng A Chống người Mông, con trai anh Sùng A Khoa khoe với các bác các cô cán bộ ngoài tỉnh vào: "Từ ngày bố làm công nhân làng thanh niên cháu vui lắm lắm nên học được nhiều hơn. Lớp bẩy của cháu có tới sáu bảy bạn cũng con làng này, vẫn bảo nhau phải học giỏi để thành công nhân con đấy!
Giữa màu xanh trên nương ngô và màu lúa chín vàng dưới ruộng, hai mươi ngôi nhà xây cấp bốn ở xóm Bản Tàng của  làng thanh niên lập nghiệp xếp một hàng ngang ngay ngắn như đội hình hành quân vào trận tuyến mới. Bản trẻ - Làng thanh niên lập nghiệp Trịnh Tường là đứa con đầu lòng của thanh niên tỉnh Lào Cai sẽ làm giàu bằng sức trẻ của mình để miền biên giới vùng đông bắc Bát Xát lấp lánh tiền vàng tiền bạc.
2.159 từ

Thơ...

 Công Thế
      Bài này mình có trong chuyến đi Lai Châu cùng Nhà văn họ Đoàn hồi tháng 4/2011 cùng bài ký đợt ấy.
                                                             
                                                               trời hoe hoe nắng lại mưa
                                                              Gió vu vơ thổi mây giăng mịt mùng
                                                               tôi lơ ngơ đến lạ lùng
                                                               Trước những trập trùng thiên tạo
                                                               vẹn nguyên văn hoá địa tầng
                                                               Lơ mơ
                                                               Say .. say eo thon vòng xoè
                                                                Đung điêng đùi non sơn nữ
                                                                Ngập ngừng gõ cửa Lai Châu




Bài đăng phổ biến