Trong trang blog của nhà thơ Ngô Minh, chúng tôi (TMH) đã đọc 50 câu thơ hay do Hội nhà văn Việt Nam chọn lọc, dùng bong bóng thả lên trời trong ngày thơ Việt Nam mười rằm tháng giêng xuân Giáp Ngọ 2014 vừa qua. Chúng tôi thấy hơn hai phần ba số câu thơ trong 50 câu được cho là hay kia thực chất chưa hay, thậm chí còn là câu dở. Xin chứng minh
18. Lòng vui ngân lên câu hát Của chúng ta làm ca ngợi chúng ta CHÍNH HỮU
Thoạt tiên chỉ vì tò mò, cũng còn vì tôi muốn tham khảo thêm xem mỹ học của cái Khác / cái Tục của phương Tây người ta quan niệm thế nào để nghĩ cho thấu đáo trước một số tác phẩm gần đây tôi cho là có vấn đề về mặt thẩm mỹ. Nhưng rồi, khi đọc đến trang 96 Luận văn thạc sỹ Đỗ Thị Thoan – Nhã Thuyên, tôi bị sốc như có ai động đến mồ mả của nhà mình. Ở đấy, Nhã Thuyên ngợi ca là “một trong những bài thú vị nhất của tập Khi kẻ thù ta buồn ngủ”(Lý Đợi), bài Mới khai quật được bản sắc văn hóa Việt Nam. Lý Đợi viết:
Văn học viết về dân tộc và miền núi là khu vực có sự hiện diện khá đông đủ bộ mặt văn học các dân tộc anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Với khả năng khơi sâu vào cái riêng, mỗi vùng miền, văn học dân tộc miền núi đã đem lại sựcái đặc sắc của mỗi dân tộc, phong phú, đa dạng và có
Đất quê hương không chỉ là áo giáp chở che người lính trong chiến trận, mà còn là đồng ruộng xóm làng nuôi nấng tốt tươi tâm hồn người nhà quê di truyền trong anh. Dẫu đã 20 năm trao thân cho thị thành, nhưng cái con người nhà quê ấy như chẳng hề mai một, nhàu nát. Đấy là Hữu Thỉnh, “nhà thơ từ đất mà lên” – theo cách gọi thân mật của cánh lính chúng tôi sau chiến tranh trở về nhóm lên trại viết Vân Hồ – Hà Nội. Hồi đó, nghĩ về thơ của thế hệ mình, tôi có so sánh: “Nếu như hồn thơ Thanh Thảo là những tia chớp từ trời xuống thì hồn thơ Hữu Thỉnh là sự sum suê của cây cối từ đất mà lên”. Bây giờ đọc tập thơ mới của Hữu
Nếu một mai bến nước, gốc đa làng không còn nữa Con đầu trần, chân đất biết về đâu BNP Cỏ chân rết ấm chân đê, bà ơi!... đừng bứt nữa Đã có gộc tre cha mang về Rơm mới mua ngoài Chợ Cổng Đình mẹ đang rải ổ Củi leo cồng nhóm bếp giữa canh khuya
Bài này của Ngọc Dương viết vào dịp kỷ niệm 40 năm thành lập hội VNLC. Anh nguyên là CT hội văn nghệ Lào Cai . Trong những năm tháng công tác anh đã từng biết chứng kiến những tai nạn nghề nghiệp của các văn nghệ sĩ Lào Cai . Những tai nạn đó đã làm nhụt đi nhiều sự thăng hoa sáng tạo của các VNS bởi những suy luận ấu trĩ, thiển cận, ám chỉ cái này cái nọ của những suy nghĩ quyền hành, áp đặt. Tít của bài do chủ blog đổi. Và đây mời bạn đọc..
Ngọc Dương
Sự cố văn chương – “vạ bút” xưa nay không hiếm. Thời sự nhất là gần đây, có bài thơ nhan đề “Lời những cây dầu cổ thụ ở trụ sở ủy ban nhân dân” của nhà thơ Đàm Chu Văn, phó chủ tịch Hội Văn học
Vào mấy năm gần đây, sáng tác, nhất là ở lĩnh vực văn xuôi của các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta đã có sự phát triển, đạt đến một số thành công mới rất đáng khích lệ. Ai đã có công đọc tác phẩm của Đoàn Hữu Nam, Nguyễn Văn Cự, Tống Ngọc Hân, Phạm Thanh Huyền... ở Lào Cai chẳng hạn, hẳn sẽ đồng ý với chúng tôi về nhận định này.
Paul Allen và Bill Gates – ngày 19 tháng 10 năm 198
Không có những thi ảnh lộng lẫy, những ẩn dụ thanh tao hay những phép tu từ cầu kỳ, tinh xảo. “Gửi Bin-Ghết và trời xanh” là lời tự sự của một chàng thi sĩ nông dân, đại diện cho nền văn hóa nông canh phương Đông, với Binll Gate, chàng hiệp sĩ IT (Information Techlonogi) hiển hách, đại diện cho nền văn minh kỹ trị Tây phương. Xuất phát từ ý hướng này, quả nhiên Nguyễn Anh Nông đã chọn được cái sườn tự sự – trữ tình khá vững trãi cho trường ca của mình.
Bin Ghết- đó là theo cách gọi thân thiện của người nông dân quê tôi.
Bin Ghết- chứ không phải Biu-ghết hay Biu-ghết-tơ (Bill Ghate)
Nhân kỷ niệm 20 năm thành lập 1991-2011 Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam tổ chức hội thảo Văn Học tại Thành phố Lạng Sơn. Sau đây là bài tham luận tại hội thảo của Nhà văn Mã A Lềnh. Bài tham luận được các đại biểu tham dự hội thảo đánh giá cao. Chủ báo đã nhận được bản tham luận này đưa lên quý vị cùng thửơng thức.
Nhà Mã A Lềnh đang trình bầy tham luận.
Mùa hát chào mừng hội thảo
Nhà văn Họ Mã Và Cố NSND Kim Vĩnh tại Quảng Nình 8/2011
Nhà văn họ Mã phía trái và các chuyên viên văn phòng UBND tỉnh Lào Cai chụp tại cổng trời Quản Bạ- Hà Giang
Hùng vĩ đèo Pác Xum Hà Giang
Nhà văn Mã A Lềnh
Ngay sau khi Bộ chính trị ban hành Nghị quyết 23, Hội nhà văn liền tổ chức cuộc hội thảo với tiêu đề “Nâng cao tính chuyên nghiệp trong văn học” tại Ninh Bình. Nhiều ý kiến hay và dở. Nhưng một vấn đề mấu chốt không ai đề cập tới là: Nhà văn không phải công chức. Xã hội có 2 lực lượng lao động chủ lực, đó là người nông dân làm ra cái ăn cái mặc; đó là người văn nghệ sĩ tạo ra sản phẩm tinh thần thì đều phải tự bươn chải. Nghị quyết 23 của Bộ chính trị thực sự làm rung động lòng người, thế nhưng đã mấy năm trôi qua, có lẽ mới có một cái được, là tự do sáng tạo. Xưa, “Mán Mèo Kinh Thổ Lô Lô / Cùng nhau học tập bên cô giáo Nùng”; “Phải lố, anh Thành à”… là những câu báo liếp mà học sinh phổ thông, học viên bổ túc phải học toét cả mắt; bây giờ thì khác lắm rồi. Như vậy, tính chuyên nghiệp không có khung định sẵn, không có định luật nào cả, chỉ còn cách mỗi người phải tự makétting cho mình.
Cuộc cách mạng giải phóng dân tộc năm 1945 cũng đồng thời mở ra một chân trời thẩm mỹ mới. Trong hai cuộc kháng chiến chống xâm lược và bước vào xây dựng đất nước, một số văn nghệ sĩ dân tộc thiểu số dè dặt tiếp cận với văn học viết. Về mặt hình thức và tương quan lịch sử thì rõ ràng văn học viết tiến bộ hơn văn học nói, hát, kể - tức văn học truyền miệng. Cũng là hình thức văn học truyền miệng nhưng được viết bằng ký tự, tức là sáng tác ra văn thơ dân gian thì sức sống không còn bền, thậm chí trở nên ngô nghê, ngoại trừ một vài tác phẩm cá biệt đạt đến “độ dân gian hóa”. Thế nên văn học viết phải theo mô thức hiện đại. Sự giàu có của nhà văn miền núi nói chung, nhà văn dân tộc thiểu số nói riêng ở chỗ họ sinh ra từ cái nôi dân gian ắp đầy với cuộc sống hồn nhiên hòa quyện cùng cây cỏ, mây gió, sương ngàn. Khi đã học được vốn kiến thức nhất định và tạo lập được cái nền móng sáng tạo, nếu biết khéo tựa vào không gian của dân gian miền núi và bản sắc dân tộc thì tác phẩm sẽ trường lực. Không gian của dân gian miền núi biểu hiện bằng phong tục, tập quán, nếp sống sinh hoạt, lời ăn tiếng nói, trang phục, cách thức lao động sản xuất, v. v… nhưng đó mới là bề nổi. Nhà văn còn phải đi sâu vào khám phá tâm hồn, trí tuệ, nhân triết, tìm ra cốt lõi của nội lực tinh thần. Tại sao người Hmông phía Bắc lại dễ dàng bỏ nhả cửa, làng xóm, ruộng vườn để đến những nơi xa lạ vốn không phải quê cha đất tổ? Câu trả lời thật dễ dàng, chẳng cần nghĩ ngợi: “Tại thằng giặc!”. Giọng điệu có vẻ hiểu biết chính trị hơn thì: “Đó là âm mưu diễn biến hòa bình!”. Xin thưa! Câu trả lời có ở khua cê - Bài ca răn đường, và có ở dân ca, ở trong những bài khèn, ở trong lịch sử dĩ vãng bi thương và hùng tráng, ở trong những phong tục, tập quán, văn hóa nói chung là Tính triết luận. Từ những viện dẫn trên để thấy rằng là nhà văn người dân tộc thiểu số, nếu học “cái cội nguồn” của dân tộc mình không đến nơi đến chốn thì dễ sa vào bẻm mép, ngô nghê, nói leo, cổ động; là nhà văn người miền xuôi, người phố thị nếu không thâm nhập sâu vào thực tiễn cuộc sống miền núi thì trang viết sẽ hời hợt, làm dáng, tầm gửi, nhại tiếng. Đến đây tôi chợt nhớ một cái truyện ngắn đoạt giải cao báo Văn nghệ của một tác giả trẻ. Vấn đề của truyện chỉ là giải phóng con người bản năng, không hơn không kém, mà vấn đề ấy thì nhiều triết gia đã nói từ tám hoánh; cái truyện ngắn mà nhiều người trầm trồ kia chỉ hơi là lạ ở sự hoạt ngôn mà thôi. Bản sắc ư? Có sẵn rồi, ở ngay người mẹ, người cha mình, cái bếp lửa nhà mình, trong trái tim mình. Bản sắc, ấy là giọng điệu riêng của từng người mà ngày nay nếu không tận dụng, nếu vẫn đồng loạt giơ nắm đấm ra hô thì chẳng còn gì là cá tính sáng tạo nữa. Vậy nên cũng đừng bàn thêm, bởi nếu bàn về bản sắc thì khác nào dấn vào rừng hoang không có lối ra. Và xin thưa, bề ngoài, anh khoác chiếc áo thổ cẩm lên người thì đương nhiên anh là người miền rừng, nhưng trong ngôn ngữ, nhất là văn chương, dù anh có muốn biến hóa thành người dân tộc khác cũng không thể được, vì đâu chỉ là diện mạo, đâu chỉ là lời ăn tiếng nói. Mót được vài từ, nhặt được vài cái tục lệ là lạ, anh tưởng đã thành người dân tộc ư? Còn lâu! Nó còn ở trong nhân chủng, còn ở trong đáy con tim mỗi người không thể dung hòa được. Vậy nên chớ xổ ra mấy cái là lạ để trộ người.
Nói về cái nghèo. Nếu làm phép cân đong thì nhà văn miền núi giàu một nhưng nghèo mười, trăm. Nghèo về sự học hành bập bõm. Đã thế lại còn ngại đọc sách triết học, mỹ học là những môn học rất cơ bản cho việc sáng tác, còn nữa là sự học để biết về vật lý, địa lý, lịch sử, sinh lý, tâm lý… Ngày nay cái sự học nếu bập bõm thì trang viết chỉ là khoa ngôn không mang lại lợi ích gì cho người đọc. Nghèo về tiền. Nghèo cả về sự giao cảm. Không có ngoại ngữ. Lại phải thấy rõ dù sao thì cái sự kỳ thị, thậm chí đố kỵ vẫn ẩn náu đâu đó dưới đáy con tim, lúc nào đó động chạm đến quyền lợi thì con tim đen lộn phèo ra ngoài. Còn thêm chút kiêu hãnh, chút ủy mị, chút bất cần, chút sa đà, chút cả tin và chút lãnh cảm, lại coi như mình có quyền đòi hỏi người khác phải tinh tế, ý nhị trong ứng xử khi mình đôi lúc buột phát sỗ sàng, thô lỗ… Rồi thì “ông giời” đã trao cho thiên chức làm nhà văn nhưng lại chui chúi tìm một “cái ghế” quan lại. Những dị tật bản năng thâm căn cố đế đó vẫn tiềm ẩn. Có thể đơn cử mộ ví dụ nho nhỏ: Bản tin hội viên của Hội nhà văn số 28 công bố danh sách Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước cấp cơ sở để trình lên cấp cao, trong số 12 tác giả đề cử Giải thưởng Hô Chí Minh thì nhà văn dân tộc thiểu số không ai có tên. Trong số 62 tác giả được đề cử Giải thưởng Nhà nước chỉ có 1 Vi Hồng! Tôi để ngỏ vì không muốn bình luận. Và nữa, đất nước 54 dân tộc bình đẳng nhưng không thể cào bằng. Nhất định ngôn ngữ chung phải là tiếng Việt. Trình độ học vấn phải được kiểm chứng bằng tiếng Việt. Thầy Lò A. không thể dùng ngôn ngữ Nùng giảng cho sinh viên trên giảng đường đại học; Luận văn khoa học của tiến sĩ Thào S. không thể dùng tiếng - chữ Hmông mà thuyết trình. Đó là một thực tế nhãn tiền. Do đó dù anh là người dân tộc gì đi nữa nhưng anh hãy nhanh chóng học tiếng Việt, hãy nhanh chóng tiếp thu kiến thức của nhân loại bằng tiếng Việt và ngoại ngữ nữa để “sánh vai với cường quốc năm châu” càng nhanh càng tốt, nhất là thời kỳ hội nhập. Vài vị khả kính thường la lên: “Bọn trẻ này không biết tiếng dân tộc thì chúng nó còn gì là người dân tộc nữa!”. Không đâu! Bọn trẻ ấy “dân tộc” hơn ông đấy! Ông bảo thủ cái mác dân tộc bằng lối rúc sâu vào hang hốc; còn chúng, trái tim “dân tộc” vẫn đập rộn ràng đi cùng nhân loại tiên tiến đấy, ông ạ! Ông giỏi tiếng mẹ đẻ nhưng lại không theo kịp thế sự hiện đại. Nó hiện đại nhưng lại khuyết tiếng mẹ đẻ; tuy nhiên nó sẽ bù được sự khiếm khuyết; còn ông sẽ chỉ có lão hóa. Tự nhìn sâu hơn vào bản thể của mình với niềm mong muốn mình sẽ cố gắng hoàn thiện hơn, bởi nhà văn miền núi nói chung, nhà văn người dân tộc thiểu số nói riêng đã tự lãnh trách nhiệm phát ngôn trước dân tộc mình. Miền núi và dân tộc là một cái mỏ vừa lộ thiên vừa chìm ẩn. Đó cũng là một sự giàu có nữa. Nên biết cuộc đời đã cho điều gì làm cho mình giàu sang. Nên biết mình còn thiếu thốn điều gì, nghèo túng mức nào. Tôi luôn tự nhủ mình như thế!./.
Mình quen Đoàn Hữu Nam theo kiểu Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình, thi thoảng đi họp thấy một gã hầm hố như... thổ phỉ nhưng ngại chả hỏi. Cho đến một hôm, hình như là anh Tùng Điển, tự nhiên giới thiệu: Thằng này là Đoàn Hữu Nam ở Lào Cai đấy. Thế là bắt tay, rồi mình ngồi sau lặng lẽ ngắm y, chụp trộm cái ảnh cho bộ sưu tập ảnh nhà văn của mình. Mình ngại đến mức sau đó có một cuộc lủi thủi lên Sa Pa nhưng mình cũng chả gọi...
Nhưng văn y thì mình đọc, và vì đọc nên mới nhớ tên chứ.
Vừa rồi đại hội Nhà Văn, y dúi cho mình cuốn sách hơn năm trăm trang còn thơm mùi mực, thì thào: Sách ít quá, biếu "vụng" ông một cuốn,đọc nhau phát cho vui. Thú thực mình cũng mang theo chục cuốn "Đêm không màu" nhưng rồi thấy ai cũng... đáng thương đáng mến cả, nên cuối cùng mang về đủ, không nỡ làm hại ai...
---------------------
"THỔ PHỈ" VÀ HIỆN THỰC VĂN CHƯƠNG
------------
Thú thực là lâu lắm tôi mới được đọc một cuốn sách thú vị đến thế về đề tài dân tộc miền núi.
Cái sự đọc lâu nay có vẻ bị coi nhẹ, đặc biệt là đọc văn chương, trong văn chương thì ngại nhất là tiểu thuyết, nó vừa dài vừa nặng nề, nhưng quan trọng là dạo này nó hay viết... vớ vẩn, không hay, toàn viết trên trời dưới đất, ngồi một chỗ tưởng tượng ra mà viết, rất phi thực tế và phi lô gích. Vẫn biết nhà văn không như nhà sử, phản ánh lịch sử, nhưng nhà văn muốn phản ánh thời đại thì phải nắm rõ thời đại ấy thông qua các biến cố, các sự kiện lịch sử có thật, rồi thay vì phản ánh thì nghiền ngẫm, thì dựng lại lịch sử thông qua các nhân vật, các hình tượng văn học trên cơ sở hiện thực lịch sử, lô gich lịch sử...
Dông dài thế để tôi nói về một cuốn sách rất "hiện thực" nhưng lại cũng rất tiểu thuyết của nhà văn Đoàn Hữu Nam, cuốn "Thổ phỉ", tiểu thuyết dày 515 trang, NXB Hội Nhà Văn phát hành quý 3 năm 2010.
Từ sự kiện lịch sử có thật xảy ra cách đây đã lâu là việc nổi phỉ của một nhóm phản động ở vùng núi phía bắc, trong đó có Lào Cai, nơi anh sinh sống và lao động văn học suốt mấy chục năm nay, anh đã viết một cuốn tiểu thuyết mà dẫu rất bận, tôi vẫn làm một hơi hai đêm là hết. Vấn đề là, anh đã tiêu hóa cái sự kiện đau lòng ấy bằng nghệ thuật tiểu thuyết rất nhuần nhuyễn.
Trước hết là anh nắm rất vững, hiểu rất sâu, văn hóa cũng như phong tục của cái vùng đất mà anh sống cũng như nơi anh cho các nhân vật của mình tung hoành. Đấy là yêu cầu tối thiểu và bắt buộc đầu tiên của nhà văn. Tiếp theo là một thái độ lao động nghệ thuật nghiêm túc. Nhà văn phải dùng tài năng của mình một cách cẩn trọng, tôn trọng mình và tôn trọng người đọc. Cẩn trọng từ cách dùng từ, dựng tứ, bố cục, cho đến sự phát triển tâm lý cũng như các hành động của nhân vật trong cái không gian nghệ thuật mà nhà văn bày ra. Cái trường đoạn mở đầu tiểu thuyết tả đời sống của cộng đồng hổ là minh chứng cho điều tôi vừa dẫn. Đoàn Hữu Nam đã rất công phu nghiên cứu đời sống của hổ, rồi sáng tạo ra một thế giới lãnh địa hổ, chính xác và bay bổng, nghiêm cẩn và thăng hoa, hiện thực mà tung tẩy, rợn ngợp nhưng vẫn thích thú phiêu bồng... Ấy là cảnh hổ làm tình vừa hoành tráng vừa lãng mạn, là nghĩa địa hổ, nơi những con hổ khoe lần cuối cùng cái sức mạnh chúa tể của mình trong cái thời khắc sinh tử cảm động nhất, mà vẫn uy nghiêm và quy củ...
Là sự giải thích rất nhân văn về Thổ phỉ. Họ chính là những người dân hiền lành lương thiện, ít học và bảo thủ, tự cao và tự ti, dốt nát và ngông cuồng... bị những kẻ cầm đầu thổi thành những chiến binh thiện nghệ đối đầu với chính quyền, với cái tốt cái đẹp. Những con người ngu muội ấy khi kết thành đám đông và bị kích động thì họ sẵn sàng gây ra tội ác, cả những tội ác man rợ nhất. Nhưng thẳm sâu trong họ vẫn là sự hướng thiện, phập phồng trong họ vẫn là những đốm sáng, có dịp là bùng lên.
Cái phông, cái nền bền vững của văn hóa dân tộc cộng với lòng tốt, lẽ phải của cách mạng, của những nhân vật cụ thể như cụ giáo Choong, của Pham, Bắc, Đàu, Đoàn Văn Long... hiện thân của cái đẹp. Đấy là những nhân vật văn học có số phận, có sự phát triển tính cách khiến cho câu chuyện phát triển về phía sáng, về hướng tốt đẹp mà không cảm thấy khiên cưỡng, áp đặt, mà thấy đương nhiên và tất yếu, qua đó thấy được sự ám ảnh của những quăng quật, thấy được sự bi tráng của khát vọng, thấy cái giá của tự do, của lẽ sống. Con người, trong cuộc đời mình luôn là sự dấn thân xen kẽ ngập ngừng giữa những hoài nghi và tồn sinh. Giải quyết những mâu thuẫn, những trắc trở ấy, là con người tự vượt mình để vươn lên. Đây là đoạn Đoàn Hữu Nam tả về cụ giáo Choong, một trí thức của vùng. Bao giờ và ở đâu cũng thế, vai trò của trí thức là vô cùng lớn, nó chính là cái hướng của la bàn, là bấc của ngọn đèn... "... cụ không chỉ là thầy học, là ân nhân, mà còn là cây cầu, bến đỗ, là nơi chốn có thể xẻ chia, nương tựa của nhiều người. Không ai biết những buồn đau, day dứt, cái gánh nặng cha anh để lại cụ cất giấu vào đâu, họ chỉ biết trong quay cuồng của gió bão mà tâm cụ vẫn tĩnh, lòng cụ không động, qua cụ, họ thấy giời, thấy đất, thấy lý, thấy lối, thấy dòng nước đầu nguồn. Họ chỉ biết khi giảng sách thánh hiền đôi mắt cụ rực sáng, người như nhập đồng, cái giọng trầm trầm mang nặng hơi thở của rừng âm vang như chuông làm mê hồn người, làm đắm chìm mọi dục vọng...". Nhờ những người như thế, những trí thức như thế, mà giữa cái man rợ hỗn mang, giữa những ngùn ngụt tội ác, sục sôi dục vọng, réo gào tăm tối, nhức nhối u mê... những con người đau khổ kiệt quệ của vùng Phòng Tô xa ngái kia vẫn gượng dậy để rồi tìm lại đường sống của mình sau những quăng quật của cuộc đời, của số phận khi bị dòng chảy của cái cơn lốc thổ phỉ kia gây ra...
Thì ra hiện thực của nhà văn không chỉ là hiện thực đời sống, mà nó còn chính là sự dấn thân, là sự lao động nghệ thuật nghiêm túc, cẩn trọng, và là chính sự hướng thiện, lòng trắc ẩn của nhà văn giữa cuộc đời này... Hiện thực của "Thổ phỉ" nhiều đoạn đạt đến độ phi hiện thực, huyền ảo như cảnh Pham trần truồng ngập ngụa giữa bầy rắn. Cái cảnh ấy nó vừa dữ dội, khủng khiếp, vừa phiêu bồng hoang dại, vừa hồng hoang vừa ma quái, nhưng nó tạo điểm nhấn cho nhân vật thể hiện mình.
Tuy thế, vẫn cứ tiếc rằng Đoàn Hữu Nam không đều tay trong suốt hơn năm trăm trang sách. Có những đoạn anh gần như lướt, trong khi đáng lẽ đấy là những điểm nhấn cho tiểu thuyết xum xuê rậm rạp thêm. Ví như nhân vật Đàu sau khi bị đến ba tên phỉ làm nhục mà cái ấn tượng nó vẫn nhạt nhòa, không ám ảnh như cảnh Pham với bố chồng giữa bầy rắn. Hay như cuối cùng, cái cảnh tổng chỉ huy Triệu Tá Sắn bị cắt đầu giá như đừng chỉ có mấy dòng như thế... Nhưng thực ra, cái kết cục ấy ắt nó phải thế, nên có thể đấy là dụng ý của tác giả để nhấn vào việc khác.
Thì cũng vì đọc kỹ mà ước ao thế, chứ thực ra, với tôi, như đã nói ở đầu, đây là một tiểu thuyết hay, kỳ công, kỹ lưỡng về một đề tài mà tôi rất quan tâm. Bởi cuộc chiến đấu chống Phỉ chỉ là cái cớ để tác giả trình bày hiểu biết và tình yêu của mình về đời sống của một vùng đất cao nguyên với đậm đặc bản sắc văn hóa, với trầm tích nhân văn mà ở xuôi không dễ gì có được...
VĂN CÔNG HÙNG
Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2011
Toạ đàm về thổ phỉ
Inrasara: Thổ phỉ của Đoàn Hữu Nam ở Tọa đàm
Báo Đà Nẵng cuối tuần, 8-5-2011
Sáng ngày 23-4-2011, lần đầu tiên Hội Văn học – Nghệ thuật các Dân tộc Thiểu số Việt Nam tổ chức Tọa đàm văn học. Tiểu thuyết Thổ phỉ của Đoàn Hữu Nam vừa đoạt Giải A Văn xuôi của Hội là đối tượng được chọn. Nhà thơ Inrasara chủ trì Tọa đàm. Tham dự có mươi nhà văn, nhà phê bình khác, cùng 12 anh chị em học viên Lớp Bồi dưỡng Sáng tác VHNT dành cho các tác giả trẻ dân tộc thiểu số và miền núi.
Đây là tác phẩm có tiếng vang trong dư luận bạn đọc
.
Có thể khẳng định ngay rằng, thành công dễ thấy nhất ở Thổ phỉ là các trang soi chiếu cận cảnh ngôi nhà dân tộc miền núi, mô tả chi tiết về rượu của người vùng cao; về sinh hoạt xã hội của nhiều dân tộc thiểu số; thuốc phiện và thu thuế; cách yêu đương, lễ tục và hủ tục; các trận đánh lớn hay nhỏ, kéo dài hay chớp mắt cùng bao nhiêu kế hoạch, trò mị dân, xách động và mua chuộc, khống chế với răn đe, các cuộc thanh toán, cuộc đấu tranh tư tưởng, trận chiến tâm hồn ở từng cá nhân, cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể, gia đình và dòng họ, đối kháng giữa các dân tộc, các quan niệm. Vân vân…
Non nửa trăm sinh phận sống, yêu thương, lao động, chiến đấu cùng bao nhiêu hi vọng và tuyệt vọng, tội ác và hình phạt của họ. Cả các “nhân vật” Pháp, Nhật, Việt Minh, và dĩ nhiên – Thổ phỉ. Thổ phỉ như một bức tranh toàn cảnh của dân tộc miền núi phía Bắc ở một giai đoạn lịch sử nhiều biến động. Biến động lịch sử đất nước kéo theo bao nhiêu đảo lộn cuộc sống thanh bình của người miền núi bấy lâu.
Tuy nhiên nhà phê bình Lâm Tiến phê bình nội dung hiện thực phản ánh trong Thổ phỉ của Đoàn Hữu Nam không có gì mới, trừ cụ giáo Choong. Tất cả chi tiết trong tiểu thuyết đã thấy đây đó trong các tiểu thuyết viết trước đó. Cái được của Đoàn Hữu Nam là anh biết xâu chuỗi chúng lại để tạo thành bức tranh sinh động, khá đầy đủ về Thổ phỉ. Ba tuyến nhân vật phát triển theo thời gian vật lí và xảy ra trong không gian nhỏ hẹp. Hạn chế của Thổ phỉ là Đoàn Hữu Nam còn nặng lối viết chuyện kể, các chi tiết văn học chưa được chú ý đúng mức. Cả ngôn ngữ và tính cách nhân vật cũng thế. Nhà phê bình này còn nói thêm là phần kết thúc Thổ phỉ hầu như không nói được gì. Nó không gợi mở ra cái gì mới cho người đọc suy nghĩ. Nó chưa vượt qua được Rừng động, Hoa hậu xứ Mường, Đồng bạc trắng hoa xòe…
Dĩ nhiên ý kiến này của Lâm Tiến chưa được mọi người đồng tình. Sương Nguyệt Minh phản bác rằng không thể nói Thổ phỉ không có cái mới, hay nó lặp lại đề tài cũ, chi tiết cũ. Theo anh cái đáng quý nhất của Thổ phỉ chính là cách thể hiện. Đoàn Hữu Nam đã có nỗ lực rất lớn trong cách thể hiện qua nhiều trang văn, khác hẳn với nhiều tác giả đi trước khi viết về miền núi. Quan trọng hơn là anh Đoàn Hữu Nam đã khắc họa được nhân vật trí thức dân tộc thiểu số. Đây là điều ít có. Có chăng các nhân vật xuất hiện như con người chân chất. mộc mạc, chứ không đầy tính trí tuệ và hiểu biết như cụ giáo Choong. Chỉ điều này thôi cũng đủ nói lên giá trị của Thổ phỉ.
Còn Trung Trung Đỉnh cho rằng Đoàn Hữu Nam là người Kinh sống nhiều năm ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Anh đã lặn sâu vào cuộc sống hàng ngày của đồng bào, hiểu biết vùng núi rừng với bao ngõ ngách của nó. Nhiều đoạn trong Thổ phỉ được viết một cách thăng hoa, bay bổng. Các trang văn đó ra đời qua sự chiêm nghiệm dài lâu từ đời sống thực của đồng bào thể hiện bởi tinh thần nghệ sĩ trong anh. Đó là điều đáng quý nhất. Nó không giả vờ mà rất thực. Có thể gọi đó là huyền ảo núi rừng dân tộc Việt Nam cũng được. Cạnh đó, theo dõi Đoàn Hữu Nam ta thấy ở tác phẩm này, anh thoát khỏi kể mà đã có ý thức dựng truyện rất rõ nét.
Phạm Duy Nghĩa bổ sung về sự rậm rạp của khu rừng ngôn ngữ ở Thổ phỉ. Thế giới nhân vật ở đây cũng khá sinh động với những tính cách đa diện, đa chiều. Dù tiểu thuyết vẫn được viết theo phong cách hiện thực truyền thống, nhưng Đoàn Hữu Nam đã biết lạ hóa nghệ thuật của mình bằng những chi tiết, hình ảnh kì lạ. Tuy nhiên anh lưu ý phần kết tiểu thuyết có hậu và có vẻ hơi dễ dãi. Thổ phỉ ra hàng xuôi chèo, êm ả quá, không có bất ngờ…tướng phỉ nói năng hoa mĩ, chẳng khác gì một cán bộ tuyên huấn.
Tọa đàm lần đầu tiên của Hội nhưng đã diễn ra lí thú và hấp dẫn. Các nhà văn, nhà phê bình đã mổ xẻ khá chi tiết tác phẩm Thổ phỉ của Đoàn Hữu Nam.Đây là tiểu thuyết được viết theo phương pháp hiện thực. Và không thể nói là nó không thành công. Nhưng hạn chế nổi cộm nhất của nó chính là “cái nhìn của Thượng đế-tác giả” trong Thổ phỉ.
Trong khi tiểu thuyết đương đại của thế giới và phần nào ở Việt Nam đã rất khác. Trung tâm tiểu thuyết hết còn là nơi chốn vẫy vùng của riêng tác giả, mà đã được giao phó cho nhân vật – cho các nhân vật, với những cách thái biểu hiện đa thanh và độc đáo hơn. Thế giới văn chương là thế giới chứa đựng rất nhiều những khoảng trống. Khoảng trống nơi đó độc giả được trao cơ hội nhìn sự kiện hay nhân vật từ nhiều chiều khác nhau để có thể nhập cuộc đồng sáng tạo. Để lấp đầy các khoảng trống đó. Thế giới tiểu thuyết được mở rộng hơn, từ đó khả tính đời sống được nắm bắt linh động và đa diện hơn. Chúng mời gọi nhiều diễn giải hơn nữa.
Và chắc chắn, tiểu thuyết sẽ có sức hấp dẫn đầy tính [hậu] hiện