Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 25 tháng 8, 2011

Đỗ Chu hơn hớn một nỗi tê dại ( Nguồn từ Phong Diệp)




Đỗ Chu hơn hớn một nỗi tê dại ...



Hoàng Minh
Kính viếng và điếu văn

Không phải mô tả kiến trúc hay cách bài trí của nhà tang lễ mà thực ra đang muốn kể về nơi ăn ở của một người danh tiếng trong làng văn Việt nam. Ông Đỗ Chu…

Sau Đỗ Chu lại có ba chấm xuống hàng nghĩa là thế nào. Trả lời: vì sự nghiệp văn chương của ông cũng đáng nói lắm, cũng dày dặn lắm và huy hoàng. Cái cổ lòng khòng của ông cũng đã ba bốn lần khoác những vòng nguyệt quế. Ờ, cái kiếp văn chương đôi lúc vẫn coi giải thưởng chẳng ra gì nếu không nói rằng lắm khi còn sinh họa vì đãi đằng, khao thết anh em họ hàng, bè bạn chúc mừng kéo lê, kéo lết đến ba tháng, nửa năm. Cứ nhận giải và ló mặt lên truyền hình thì liệu thần hồn. Nhẹ là thủng túi, nặng là khốn đốn với “chị gái” ở nhà chứ chẳng chơi.

 
Chân dung nhà văn Nguyễn Đình Thi do Đỗ Chu vẽ

Nhưng cứ ví mình như cái vỏ chai cũng đúng chứ. Rượu Valentin 21 năm  khác hẳn với Cônhăc 10 năm là ở chỗ cái tem. Rượu ngon mà có tem chứng thực thương hiệu thì còn gì bằng. Ai chả muốn.

Đỗ Chu mấy lần được dán tem, không những tem nội mà cả tem ngoại hẳn hoi. Vinh danh ở 10 nước ASEAN là cũng thương hiệu chứ. Đùa được à …

Rồi in báo, in sách. Sách của ông cứ ra xình xịch như tàu. Rõ hãi. Phiêu bạt, nhậu nhẹt, đàn đúm bè bạn lắm thế mà viết khỏe thế. Viết hay và cay. Cay mà vẫn  lọt. Lọt mà vẫn chạy. Chạy mà vẫn  nhoẻn cười bưng giải. Khiếp!

Chỉ có cái căn hộ hiện ông đang ngụ thì chuyện đáng bàn không giống chuyện văn chương mà ở cái khu vực địa lý do ông chọn.

Gặp thằng bạn văn nào ông cũng muốn rước về nhà chơi hoặc nài có dịp ghé lại nhà. Cặp mắt đỏ rựng nhưng quá đỗi chân tình. “Không điện thoại cầm  tay cầm  chân gì cả, vướng, đây là điện thoại để… sàn. Đến chơi đi. Tao ở ngay trước cổng 354 ấy. Bệnh viện ấy. Mày chưa đi viện bao giờ à. Viện hay lắm”
Ờ thì đi. Không phải đi viện mà đi đến cái ông oái oăm  này xem ăn ở thế nào.
Gớm, lời  chào cao hơn ...tiệc nhậu.

***
À, ra đây là cái mặt sàn  để Đỗ Chu  Tản  mạn  trước đèn. Sống ở đây được cái sướng là gần bệnh viện. Di cái thân già qua đường trèo lên giường sắt  là ngửi thấy mùi ete ngay. Không phải gọi cấp cứu với 115 làm gì cho tốn tiền uống rượu. Thế mới oách.

Thứ nữa là chết. Chết rất tiện. Viếng rất gần. Hồn vía về thăm nhà cũng chỉ ba bước chân, không xe ôm taxi, không tắc đường, không sợ tai nạn giao thông. Mày đã nhìn thấy nhà tang lễ chưa, đấy đấy, thằng dở hơi, ở cái góc theo tay tao chỉ đây này. Bố mày thăng thì có mà ngọt xớt. Giải pháp cả gói, khép kín tất, chả bố con thằng chó nào ăn được gì.

Ở đây lại còn thường xuyên được nghe nhạc không mất tiền. Nhạc của Phật, nhạc hiếu ngân nga như ca trù trong mênh mông sương khói. Nhiều ông hình như là nhạc sĩ lại không dùng đến nhạc hiếu mà dùng nhạc của mình để tự tiễn đưa mình.
Khổ mỗi cái là nước mắt nhiều quá, cứ bò ra, nước mắt lê lết, lăn lóc, thảm thiết. Mình ở gần đây hóa ra được tiễn đưa khối người, cả quen lẫn lạ. Tự nhiên lại buồn phiền thương nhớ những người dưng.
Hàng ngày, cứ mở cửa sổ ra lại gặp một bác qua đời. Có ngày ba bốn bác lũ lượt. Giờ xếp kín không đủ diện tích cho các bác xấu số. Nhà đến sau cứ van nài nhà làm lễ trước đó kết thúc sớm để kê người nhà mình vào cho đúng giờ đã chọn. Cứ đi đến, nối đuôi nhau mà về với thiên thu.

Ở đây ngộ ra được khối điều trên thế gian ngổn ngang này. Mấy thằng ác không ở đây mà chứng kiến. Mình hiền thế này mà cứ hé cửa ra là gặp chuyện dữ, chuyện buồn.

Hay nhất là điếu văn, ngày nào cũng được nghe một đến dăm điếu văn. Tên tuổi khác nhau nhưng đạo đức  đều tót vời như nhau. Bác nào cũng là người chồng chung thủy, người cha mẫu mực bởi vì điếu văn theo một mẫu của nhà tang lễ. Chỉ việc cắm tên và sơ yếu lý lịch vào là người đọc đã ngậm ngùi, gia đình đã sướt mướt. Thế là người chồng chung thủy, người cha mẫu mực đã được tiễn sang thế giới bên kia.

Nhưng ngẫm ra thì xét nét chữ nghĩa với người khuất núi làm gì. Bọn văn chương còn tâng bốc nhau khiếp hơn thế nhiều lần mà có ai cản ngôn, đình bản,chửi rủa gì đâu.Rồi thời gian sẽ hóa thân hóa kiếp chúng ta thành những người chồng chung thủy, người cha mẫu mực. Xóa hết phàm trần, xuống đó tính sau, phân xử lại, đâu có muộn.

Nào, uống đi. Uống vừa thôi  con ạ. Mày phải cố dăm chục năm nữa hãy thủy chung mẫu mực. Còn bây giờ cứ lai rai nó mới bền. Tao cũng cố vài chục năm nữa, xem có viết được gì, xem có được thêm cái giải nào để tích vốn cho con sau này nó còn chơi…chứng khoán.
***
Một bộ bàn ghế tuềnh toàng dùng làm nơi tiếp khách và cả tiếp... mình. Nơi phụt thuốc lào vô phương hướng nếu hứng chí văn chương. Ông Mao chẳng nói nền nhà là cái gạt tàn mênh mông đó thôi. Cứ rách việc. Còn đóm hả. Bản thảo vứt đi. Một đời viết có mà vứt khối. Mấy khi chữ ở được với mình, với đời. Mày là thằng viết mày biết đấy. Chữ nó bỏ mình đi như cơm bữa, nếu không tao có mà ăn hết giải Hội Nhà văn.

Giường chiếu cũng thế. Cõi tạm thôi. Mà ông nhà văn họ Đỗ này có ngủ bao giờ đâu, chỉ chợp qua loa cho có vẻ nhắm mắt. Có người nói đi công tác với Đỗ Chu, ở cùng phòng, hầu chuyện Đỗ Chu thì chỉ một tuần là đi… Văn Điển. Ông không ngủ bò xung quanh giường. Ngoảnh mặt ra ngoài ông bò ra ngoài, úp mặt vào tường ông bò vào tường. Thập diện mai phục để đối thoại. Một tuần sau tóc dựng đứng như tranh vui, người bã ra như đậu phụ ngâm nước, tan nát cõi lòng, nhưng trước khi đi Văn Điển cũng thu lượm được khối kiến thức, biết được đủ thứ trên đời để rồi xuống đấy tiếp tục hầu chuyện với cỏ.

Đó cũng là một thứ độc tài, nhất nguyên, một loại lãnh tụ tinh thần tự mình nghi ngút, tránh tranh luận, bàn cãi. Thôi thì nhường vậy. “Bắt cởi trần phải cởi trần, cho may ô mới được phần may ô”.

Nói nhiều thế, tất cả tinh túy phun hết ra miệng, thế mà trang viết không cặn bã. Loa và bút tinh túy như nhau tạo nên một trường phái Đỗ Chu: dở quê dở tỉnh, dở say dở khôn, dở đùa dở thật, dở vui dở buồn. Đọc ông Chu thấy một tì vết không lẫn vào đâu được, liền mạch, lấp lánh, tỉnh queo, mà cứ rấm rứt vô hạn nỗi buồn.

Một đời văn như vậy cũng tạo nên một cột mốc trên con đường dài đằng đẵng không biết đâu là đích của văn chương. Nhìn vào cột mốc bên đường văn chương để rồi ta bình tâm trước những vô hạn của đời sống và đích đến của tài năng. Đó là con đường ròng rã bộ hành, khổ đau bất tận, trả giá quên thân. Một nghề oái oăm đến thế là cùng, trời ạ!

Tôi đã có dịp vào chùa Bổ Đà khi di tích ấy chưa được phục chế lại “mới toang” như bây giờ. Qua Sen Hồ, cái làng đã sinh ra Đỗ Chu thấy dưới những rặng tre, bóng một dáng người lòng khòng, tóc húi cua, mặt nhăn nhúm và ngộ nghĩnh, mắt đỏ rầu rầu. Gặp những con gà nhặt thóc, con trâu gặm cỏ và gặp cả nỗi đau nhói của cô bé bán cả con mình lẫn mẹ mình mà khi gặp Đỗ Chu vẫn hơn hớn một nỗi tê dại trong Tản mạn trước đèn.

Chủ Nhật, 21 tháng 8, 2011

Thơ

Bài này mình làm đã lâu, nay pots lên chơi các bạn góp ý nhé.

Công Thế          Trong gương


Dòng đời bươn bả
dòng sông xe hối hả
                               
Lướt lướt trong gương chiếu hậu
ai đó hớn hở
               hình như được tăng lương
và ai nhăn nhó
                        trong cơn bão giá
người hành khất
dìu cụ già qua đường
 chật vật

Lươn lướt trong gương
Có những đầy tớ rị mọ
phởn phơ vô cảm
Những đầu xanh đầu đỏ
vun vút xe như loạn điên
rên riết của thời @ thắt cổ

Lươn lướt trong gương
hỷ nộ ái ố bầy ra
hạnh phúc - khổ đau
vui buồn- được mất bầy ra
nhập nhằng vàng thau
Khuất lấp mịt mờ đi tìm gương ?
Giữa dòng nghiệt ngã chảy trôi…/

                             C.T



Công thế                 
                Tiếng Khèn
                                                            
Thác xé mây,  đội  vách đá
Nước tung bọt trắng xoá
Thành hạt sương bay lên
    Mưa Thành suối, thành sông
Chảy về đồng về ruộng
Nuôi hạt lúa no tròn .


Mẹ cõng nương cằn
Nhọc nhăn giọt mồ hôi
Nuôi cây ngô chắc bắp
                       Nuôi cây lúa nặng bông
Nuôi dòng đời sinh sôi.


 Tiếng khèn anh ngần nga
Âm vào vách núi
Núi hân hoan giăng giăng vòng xoè.
Ngấm vào đất cất thành huyền thoại…
Ngấm vào em má hồng bối rối
Ngây ngất tiếng khèn Anh.


                                                                              C.T            


Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2011

Xà nu xuống phố



XÀ NU XUỐNG PHỐ

Mình bỏ phiếu bầu nhà văn Nguyên Ngọc làm Già làng Việt Nam. Lâu nay Già làng bận với trường đại học Phan Chu Trinh tận Hội An. Già làng ít có dịp ở Hà Nội. Hôm vừa rồi Gìa làng lượn ra Hà Nội là lập tức nhập vào đoàn người “đi bộ vỉa hè” vòng quanh hồ Gươm vào buổi sáng.

Già làng người thấp nhỏ, khuôn mặt phúc hậu, lọt thỏm trong đám người biểu tình. Lâu lắm mình mới được gặp Già làng sau khi rời trường viết văn Nguyễn Du. Thời ấy, tụi mình nhóc con ham chơi, ham tình tang yêu đương nên ít biết quí trọng những giờ học trong trường, nhưng giờ học mà Già làng đứng lớp bao giờ cũng đông đủ mọi người. Đến được nghe Già làng kể chuyện, tâm tình của một người cầm bút đi trước. Nhưng quan trọng hơn là được tranh luận thoải mái với Già làng những gì bức xúc, những gì khó nói ở chỗ đông người, những gì chỉ có thể thì thầm với nhau…Thời đó Già làng làm tổng biên tập báo Văn Nghệ. Một loạt phóng sự nóng hổi hơi thở cuộc sống như “Cái đêm hôm ấy đêm gì” (Phùng Gia Lộc); “Lời khai của bị can” (chuyện về vua lốp) của Trần Huy Quang; “Người đàn bà quỳ” (Nguyễn Văn Ba)...làm cho xã hội lúc đó sôi lên sùng sục. Báo Văn Nghệ như vừa thoát thai sau “đêm trường” ngơ ngơ với cuộc sống, cho chẳng ai xem, bỗng tira tăng vù vù. Cũng thời gian này, báo Văn Nghệ giới thiệu những tên tuổi mới toanh và gây nên cơn sốt trong làng văn chương như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài...Năm 1987, trong dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Báo Văn Nghệ, với tư cách tổng biên tập ông đã đọc một bài diễn văn “Đối mặt với cuộc sống”. Đó chính là lời khẳng định sự dấn thân của người cầm bút và văn nghệ nói chung, nhà văn nói riêng. Có nhiều ý kiến khác nhau về việc này. Phần lớn nhà văn đều lảng tránh, làm ngơ với hiện thực cuộc sống và không muốn liên lụy vì tiếng nói mạnh mẽ của Già làng. Y như rằng sau đó báo Văn Nghệ bị chính thức phê phán là "chệch hướng" vì làm nhiều người phật ý. Và cái gì đến phải đến, Già làng buộc phải thôi làm tổng BT và cuối năm 1988, Già làng nhận quyết định “thuyên chuyển công tác” khỏi Báo Văn Nghệ. Đại hội Nhà văn sau đó bầu Già làng vào Ban chấp hành, phụ trách ban sáng tác của hội. Năm 1991, Ban sáng tác của hội đã bỏ phiếu trao tặng giải thưởng cho những tác phẩm gây xôn xao dư luận, đó là “Nỗi buồn chiến tranh” (Bảo Ninh); “Bến không chồng” (Dương Hướng) và “Mảnh đất lắm người nhiều ma” (Nguyễn Khắc Trường). “Đó là những tác phẩm thật sự đặc sắc, còn đứng được cho đến bây giờ” – Già làng Nguyên Ngọc khẳng định. Và thực tế đã chứng minh điều đó. Sau này chưa có năm nào lập được kỉ lục về chất lượng giải thưởng như vậy. Cả ba tác phẩm đã đi vào cuộc sống và sống mãi trong lòng bạn đọc. Tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh đã được dịch ra nhiều tiếng trên thế giới. Mới đây anh giai còn được nhận giải thưởng châu Á của tờ báo gì đó bên Nhật cho tác phẩm này. Công của Già làng là rất lớn. Cơ mà ít ai cần đến cái tâm, cái tầm của Già làng Nguyên Ngọc ngoài những đứa học trò bướng và bất tài như mình. Cố theo Thầy để học nghề văn và học làm Người. Già làng có mặt trong hầu hết những phản biện của cuộc sống, hết phản biện về bôxit đến luật sư họ Cù, gần đây là lên tiếng về thái độ ứng xử của chính quyền với người biểu tình chống Trung Quốc. Chủ nhật vừa rồi thì Già làng chính thức nhập vào quân số những kẻ thích “đi bộ vỉa hè” vào sáng chủ nhật. Mình nghe anh bạn báo tin có Già làng tham gia đoàn biểu tình liền chạy thốc lên hàng đầu để được nói lời cám ơn và để chiêm ngưỡng dung nhan của Già làng sau nhiều năm chưa được gặp. Già làng vẫn thế, hay cười, nhỏ nhẹ và hiền khô. Nhưng khi trình bày vấn đề gì bức xúc, ấp ủ thì rất quyết liệt, như khối thuốc TNT sắp nổ tung. Mình bảo Già làng: “Thầy còn xuống đường thế này, tụi em ngồi nhà sao đành?”. Già làng chỉ cười, tay vung lên hô khẩu hiệu: “Đả đảo Trung Quốc xâm chiếm biển Đông”…Rồi sau đó mình được lững thững bên Già làng, lắng nghe âm thanh cuộc sống sôi động xung quanh, thấy bố mình như sống dậy, đi cùng mình trong cuộc biểu tình này, thân thương, gắn bó, dịu lòng và bình yên lạ lùng…Nhiều người đến gần đòi chụp ảnh, khoác tay Già làng và hô: “Đất nước đứng lên rồi”…Một anh bạn mình thì nói to: “Đất nước đứng lên rồi nhưng vẫn còn rất nhiều “anh hùng núp”…Già làng vẫn chỉ cười hiền. Không biết từ đâu anh hùng Núp trong “Đất nước đứng lên” của Già làng lại hóa thân thành anh hùng “núp” với nghĩa ngược lại? Khổ thân anh hùng Núp ngoài đời thật đã quá vãng!
Trong “Rừng xà nu”, Già làng Nguyên Ngọc viết: “Cả rừng xà nu hàng vạn cây không cây nào không bị thương. Có  những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão. Ở chỗ  vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng hè gay gắt, rồi  dần dần bầm lại, đen và đặc quện vào thành từng cục máu lớn. Trong rừng ít có loại cây sinh sôi nảy nở khỏe như vậy. Cạnh một cây xà  nu mới ngã gục, đã có bốn năm cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi  tên lao thẳng lên bầu trời. Cũng ít có loại cây ham ánh sáng mặt trời đến thế. Nó phóng lên rất nhanh để tiếp lấy ánh nắng, thứ ánh nắng trong rừng rọi từ trên  cao xuống từng luồng lớn thẳng tắp, lóng lánh vô số hạt bụi vàng từ nhựa cây  bay ra. Có những cây con vừa lớn ngang tầm ngực người lại bị đại bác chặt đứt  làm đôi. ở những cây đó, nhựa còn trong, chất dầu còn loãng, vết thương không  lành được, cứ loét mãi ra, năm mười hôm thì cây chết. Nhưng cũng có những  cây vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum sê như những con chim đã đủ  lông mao lông vũ. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của  chúng chóng lành như những vết thương trên một thân thể cường tráng. Chúng  vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã ngã...Cứ thế, hai ba năm nay rừng xà  nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng...Đứng trên đồi xà nu ấy trông ra xa, đến hút tầm mắt cũng không thấy gì  khác ngoài những đồi xà nu nối tiếp tới chân trời”...
Theo sách dạy học sinh phân tích tác phẩm này thì, xà nu được nhân cách hoá thành con người. Nỗi đau của rừng xà nu mãi mãi là vết thương lòng của con người trong nhiều năm tháng chiến tranh. Cây xà nu có một sức sống phi thường, vô cùng mãnh liệt, ở mỗi gốc cây xà nu mới ngã gục đã có bốn năm cây con mọc lên, “ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu trời”, thể hiện tư thế hiên ngang dũng mãnh của con người trong khói lửa. Còn nhựa xà nu “thơm mỡ màng”, “thơm ngào ngạt”, tượng trưng cho phẩm chất cao quý của con người…Đó là loại cây ham ánh sáng mặt trời nhất trong rừng, thèm được tắm mình trong ánh mặt trời. Nếu cây tùng trong thơ Ức Trai có “tài “đống lương”…nhà cả đòi phen chống khoẻ thay”, để lại hổ phách phục linh “dành còn để trợ dân này”, thì rừng xà nu “ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng”. Chắc cũng trúng cái bụng của Già làng…
Trước khi Già làng tham gia buổi biểu tình hôm 14/8 thì cây xà nu của Tây Nguyên đã được đem xuống trồng ở vườn hoa Canh Nông, cạnh đường Hoàng Diệu. Nhưng chắc xà nu không hợp với “không gian” sống "tế nhị", "nhạy cảm" đó nên đã được bứng ra trồng ở quanh hồ Hoàn Kiếm. Cứ chủ nhật là mọi người được chứng kiến xà nu vươn vai lớn dậy…Hihi…
Đôi bạn lớn Nguyên Ngọc và Huệ Chi cùng tiến...
Cả Hà Nội như là làng Xô Man của Già làng Mết trong “Rừng xà nu” mà mỗi dân làng là một cây xà nu – chiến sỹ. Cụ Mết già làng oai phong lẫm liệt, mắt sáng và xếch, râu dài tới ngực mà đen bóng. Già làng ở trần, ngực căng như một cây xà nu lớn. Già Mết đã thắp sáng ngọn lửa chiến đấu, chiến thắng vì chân lý lịch sử: “Chúng nó đã cầm súng, mình phải cầm giáo!”. Cụ nhắc nhở người Strá phải giữ lấy truyền thống “thương núi, thương nước” để có thể ngẩng cao đầu kể lại cho con cháu nghe sau này. Già làng Nguyên Ngọc không to con bằng Già làng Mết, nhưng mình vẫn thấy bóng dáng Già làng cao vời vợi giữa những người biểu tình hôm 14/8. Hai Già làng đều truyền ngọn lửa nhiệt huyết và tình yêu đất nước vào tâm hồn con cháu…
Còn các giai đẹp tham gia đoàn biểu tình có khác gì T’nú đâu? T’nú là người trai dũng mãnh, là niềm tự hào của dân làng Xô Man. T’nu “là người Strá mình. Cha mẹ nó chết sớm, làng Xô Man này nuôi nó. Đời nó khổ, nhưng bụng nó sạch như nước suối làng ta” (lời già làng Mết). Ngọn lửa xà nu trên mười ngón tay T’nu thắp sáng dũng khí và tinh thần bất khuất chống ngoại xâm của dân làng Xô Man. Hy vọng sẽ còn nhiều T’nu của Già làng Nguyên Ngọc bước ra từ trang sách sử thi Tây Nguyên để sống giữa Hà Nội hôm nay. Vì Già làng đã đứng lên cùng đất nước, lẽ nào con cháu của Già làng lại quì xuống cho người khác lớn hơn mình?
Mình phấp phỏng hy vọng xà nu sẽ ươm trồng trên tất cả mọi tỉnh thành trên cả nước. Xà nu dễ sống, sống kiên cường, lẽ nào lại lụi tàn? 
Có thời cây tre, cây dừa, cây đước đã được một số nhà văn nhà thơ dành cho một địa vị sang trọng: “Gậy tre, chông tre chống lại sắt thép quân thù. Tre xung phong vào xe tăng, đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hy sinh để bảo vệ con người” (“Cây tre Việt Nam” - Thép Mới). Giờ xà nu “thế hệ mới” của Già làng Nguyên Ngọc có kém cạnh gì tre chứ?
Theo blog của Nhà thơThuỳ Linh

Thứ Sáu, 19 tháng 8, 2011

Văn Công Hùng nói về " Thổ phỉ"

vanconghung | 26 Aug, 2010, 10:24 | VĂN CÔNG HÙNG VIẾT VỀ BẠN BÈ | (655 Reads)
Mình quen Đoàn Hữu Nam theo kiểu Văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình, thi thoảng đi họp thấy một gã hầm hố như... thổ phỉ nhưng ngại chả hỏi. Cho đến một hôm, hình như là anh Tùng Điển, tự nhiên giới thiệu: Thằng này là Đoàn Hữu Nam ở Lào Cai đấy. Thế là bắt tay, rồi mình ngồi sau lặng lẽ ngắm y, chụp trộm cái ảnh cho bộ sưu tập ảnh nhà văn của mình. Mình ngại đến mức sau đó có một cuộc  lủi thủi lên Sa Pa nhưng mình cũng chả gọi...

Nhưng văn y thì mình đọc, và vì đọc nên mới nhớ tên chứ.

Vừa rồi đại hội Nhà Văn, y dúi cho mình cuốn sách  hơn năm trăm trang còn thơm mùi mực, thì thào: Sách ít quá, biếu "vụng" ông một cuốn,đọc nhau phát cho vui. Thú thực mình cũng mang theo chục cuốn "Đêm không màu" nhưng rồi thấy ai cũng... đáng thương đáng mến cả, nên cuối cùng mang về đủ, không nỡ làm hại ai...
---------------------
   

"THỔ PHỈ" VÀ HIỆN THỰC VĂN CHƯƠNG
------------
        Thú thực là lâu lắm tôi mới được đọc một cuốn sách thú vị đến thế về đề tài dân tộc miền núi.

        Cái sự đọc lâu nay có vẻ bị coi nhẹ, đặc biệt là đọc văn chương, trong văn chương thì ngại nhất là tiểu thuyết, nó vừa dài vừa nặng nề, nhưng quan trọng là dạo này nó hay viết... vớ vẩn, không hay, toàn viết trên trời dưới đất, ngồi một chỗ tưởng tượng ra mà viết, rất phi thực tế và phi lô gích. Vẫn biết nhà văn không như nhà sử, phản ánh lịch sử, nhưng nhà văn muốn phản ánh thời đại thì phải nắm rõ thời đại ấy thông qua các biến cố, các sự kiện lịch sử có thật, rồi thay vì phản ánh thì nghiền ngẫm, thì dựng lại lịch sử thông qua các nhân vật, các hình tượng văn học trên cơ sở hiện thực lịch sử, lô gich lịch sử...

        Dông dài thế để tôi nói về một cuốn sách rất "hiện thực" nhưng lại cũng rất tiểu thuyết của nhà văn Đoàn Hữu Nam, cuốn "Thổ phỉ", tiểu thuyết dày 515 trang, NXB Hội Nhà Văn phát hành quý 3 năm 2010.

        Từ sự kiện lịch sử có thật xảy ra cách đây đã lâu là việc nổi phỉ của một nhóm phản động ở vùng núi phía bắc, trong đó có Lào Cai, nơi anh sinh sống và lao động văn học suốt mấy chục năm nay, anh đã viết một cuốn tiểu thuyết mà dẫu rất bận, tôi vẫn làm một hơi hai đêm là hết. Vấn đề là, anh đã tiêu hóa cái sự kiện đau lòng ấy bằng nghệ thuật tiểu thuyết rất nhuần nhuyễn.

        Trước hết là anh nắm rất vững, hiểu rất sâu, văn hóa cũng như phong tục của cái vùng đất mà anh sống cũng như nơi anh cho các nhân vật của mình tung hoành. Đấy là yêu cầu tối thiểu và bắt buộc đầu tiên của nhà văn. Tiếp theo là một thái độ lao động nghệ thuật nghiêm túc. Nhà văn phải dùng tài năng của mình một cách cẩn trọng, tôn trọng mình và tôn trọng người đọc. Cẩn trọng từ cách dùng từ, dựng tứ, bố cục, cho đến sự phát triển tâm lý cũng như các hành động của nhân vật trong cái không gian nghệ thuật mà nhà văn bày ra. Cái trường đoạn mở đầu tiểu thuyết tả đời sống của cộng đồng hổ là minh chứng cho điều tôi vừa dẫn. Đoàn Hữu Nam đã rất công phu nghiên cứu đời sống của hổ, rồi sáng tạo ra một thế giới lãnh địa hổ, chính xác và bay bổng, nghiêm cẩn và thăng hoa, hiện thực mà tung tẩy, rợn ngợp nhưng vẫn thích thú phiêu bồng... Ấy là cảnh hổ làm tình vừa hoành tráng vừa lãng mạn, là nghĩa địa hổ, nơi những con hổ khoe lần cuối cùng cái sức mạnh chúa tể của mình trong cái thời khắc sinh tử cảm động nhất, mà vẫn uy nghiêm và quy củ...

        Là sự giải thích rất nhân văn về Thổ phỉ. Họ chính là những người dân hiền lành lương thiện, ít học và bảo thủ, tự cao và tự ti, dốt nát và ngông cuồng... bị những kẻ cầm đầu thổi thành những chiến binh thiện nghệ đối đầu với chính quyền, với cái tốt cái đẹp. Những con người ngu muội ấy khi kết thành đám đông và bị kích động thì họ sẵn sàng gây ra tội ác, cả những tội ác man rợ nhất. Nhưng thẳm sâu trong họ vẫn là sự hướng thiện, phập phồng trong họ vẫn là những đốm sáng, có dịp là bùng lên.

        Cái phông, cái nền bền vững của văn hóa dân tộc cộng với lòng tốt, lẽ phải của cách mạng, của những nhân vật cụ thể như cụ giáo Choong, của Pham, Bắc, Đàu, Đoàn Văn Long... hiện thân của cái đẹp. Đấy là những nhân vật văn học có số phận, có sự phát triển tính cách khiến cho câu chuyện phát triển về phía sáng, về hướng tốt đẹp mà không cảm thấy khiên cưỡng, áp đặt, mà thấy đương nhiên và tất yếu, qua đó thấy được sự ám ảnh của những quăng quật, thấy được sự bi tráng của khát vọng, thấy cái giá của tự do, của lẽ sống. Con người, trong cuộc đời mình luôn là sự dấn thân xen kẽ ngập ngừng giữa những hoài nghi và tồn sinh. Giải quyết những mâu thuẫn, những trắc trở ấy, là con người tự vượt mình để vươn lên. Đây là đoạn Đoàn Hữu Nam tả về cụ giáo Choong, một trí thức của vùng. Bao giờ và ở đâu cũng thế, vai trò của trí thức là vô cùng lớn, nó chính là cái hướng của la bàn, là bấc của ngọn đèn... "... cụ không chỉ là thầy học, là ân nhân, mà còn là cây cầu, bến đỗ, là nơi chốn có thể xẻ chia, nương tựa của nhiều người. Không ai biết những buồn đau, day dứt, cái gánh nặng cha anh để lại cụ cất giấu vào đâu, họ chỉ biết trong quay cuồng của gió bão mà tâm cụ vẫn tĩnh, lòng cụ không động, qua cụ, họ thấy giời, thấy đất, thấy lý, thấy lối, thấy dòng nước đầu nguồn. Họ chỉ biết khi giảng sách thánh hiền đôi mắt cụ rực sáng, người như nhập đồng, cái giọng trầm trầm mang nặng hơi thở của rừng âm vang như chuông làm mê hồn người, làm đắm chìm mọi dục vọng...". Nhờ những người như thế, những trí thức như thế, mà giữa cái man rợ hỗn mang, giữa những ngùn ngụt tội ác, sục sôi dục vọng, réo gào tăm tối, nhức nhối u mê... những con người đau khổ kiệt quệ của vùng Phòng Tô xa ngái kia vẫn gượng dậy để rồi tìm lại đường sống của mình sau những quăng quật của cuộc đời, của số phận khi bị dòng chảy của cái cơn lốc thổ phỉ kia gây ra...

        Thì ra hiện thực của nhà văn không chỉ là hiện thực đời sống, mà nó còn chính là sự dấn thân, là sự lao động nghệ thuật nghiêm túc, cẩn trọng, và là chính sự hướng thiện, lòng trắc ẩn của nhà văn giữa cuộc đời này... Hiện thực của "Thổ phỉ" nhiều đoạn đạt đến độ phi hiện thực, huyền ảo như cảnh Pham trần truồng ngập ngụa giữa bầy rắn. Cái cảnh ấy nó vừa dữ dội, khủng khiếp, vừa phiêu bồng hoang dại, vừa hồng hoang vừa ma quái, nhưng nó tạo điểm nhấn cho nhân vật thể hiện mình.
        Tuy thế, vẫn cứ tiếc rằng Đoàn Hữu Nam không đều tay trong suốt hơn năm trăm trang sách. Có những đoạn anh gần như lướt, trong khi đáng lẽ đấy là những điểm nhấn cho tiểu thuyết xum xuê rậm rạp thêm. Ví như nhân vật Đàu sau khi bị đến ba tên phỉ làm nhục mà cái ấn tượng nó vẫn nhạt nhòa, không ám ảnh như cảnh Pham với bố chồng giữa bầy rắn. Hay như cuối cùng, cái cảnh tổng chỉ huy Triệu Tá Sắn bị cắt đầu giá như đừng chỉ có mấy dòng như thế... Nhưng thực ra, cái kết cục ấy ắt nó phải thế, nên có thể đấy là dụng ý của tác giả để nhấn vào việc khác.

        Thì cũng vì đọc kỹ mà ước ao thế, chứ thực ra, với tôi, như đã nói ở đầu, đây là một tiểu thuyết hay, kỳ công, kỹ lưỡng về một đề tài mà tôi rất quan tâm. Bởi cuộc chiến đấu chống Phỉ chỉ là cái cớ để tác giả trình bày hiểu biết và tình yêu của mình về đời sống của một vùng đất cao nguyên với đậm đặc bản sắc văn hóa, với trầm tích nhân văn mà ở xuôi không dễ gì có được...
                                VĂN CÔNG HÙNG

Thứ Tư, 17 tháng 8, 2011

Lưu manh lừa NSND tại tp Lào Cai

Tin mới nhận NS ND  L...K bị quân lưu manh lừa đảo:
Nhân ghé thăm Nhà thơ, lương y Đặng Đà làm cốc nước nhân trần đá cho mát ruột trưa hè thì được hung tin NSND L..K mới bị quân lưu manh lừa đảo mất một số tài sản. Nghĩ mà đau mà xót cho thân gia NS rồi lại nghĩ thời loạn nhiễu nhương cơ cực chẳng biết đến lúc nào mà quét hết được cái bọn lừa đảo này đây.
   Theo  tin  nhà thơ cho biết hôm rồi hai vợ chồng NS già ở nhà con cái  bây giờ mỗi đứa một phương làm ăn. Chắc bon lưu manh đã thăm dò từ lâu, đã đến nhà dùng thủ đoạn lừa đảo. Chúng cỗm đị toàn bộ số của cải mà NS đã ky cóp mấy lâu. Đó là số tiền tiết kiệm, tiền lương, tiền thưởng của các giải thưởng và tiền con cháu biếu để giắt lưng tuổi già. Đợt này lại chuẩn bị  chút ít để cho cuộc đi " Đại tu" thân thể , nghe đâu tại TP HCM. Chả là lâu nay NS mắc căn bệnh gút và tiểu đường.  Bon lưu manh gồm hai đứa phụ nữ nghe nói khá xinh dẹp, răng khểnh má hồng, đi xe đẹp, ăn mặc đẹp, lịch sự, túi cặp, láp tốp nhìn có vẻ tử tế lắm nghờ đâu hở trời... Chẳng biết bọn chúng có biết danh tiếng của nghệ sĩ hay không, mà biết thì lương tâm chúng để đâu? mà bọn lừa đảo chùng làm gì có lương tâm với chả lương ruột cơ chứ! quân dã man tàn bạo đến người của công chúng vang dội, cả đời làm nghệ thuật đến lúc gần đất xa trời như thế chúng cũng chả tha thì qúa bất nhân, bất nghĩa.  Buồn quá  tôi lại nghĩ đến vụ hai Đ/C Công an ở phường Hàng Xanh TP HCM ( mà không thể là Đ/C được, bố láo) hôm rồi xông vào đánh nhau thí mạng giữa bàn dân thiên hạ , mà thấy đau,  thấy lộm cộm quá trời.  Nếu có tư cách thì không như thế, nếu thời gian ấy để nghĩ thêm cách bảo vệ an ninh trật tự cho bình yên đất nước có hay không nhỉ. xứng đáng AN-ND không nhỉ? Buồn không còn gì để nói! Thôi đấy là chuyện xã hội mình cứ hay vẩn vơ thế..
  Thật lòng tôi chia buồn cùng NS. Mà thôi cụ ạ người đời vẫn nói "của đi thay người " trong cái rủi có cái may,  ngỡ đâu đợt nay căn bệnh của NS nó lại bay biến hết thì có mà sướng quá. Chẳng việc gì phải suy nghĩ cho buồn sầu. Tiếng sáo của NS đã làm ngả nghiềng đắm say lòng người  bao miền đất , đã từng ngân vang cả bên trơi Âu cứ lấy nó làm niềm vui thế la sướng NS ạ !
Có mấy nhời thông báo bạn bè biết và cũng mấy nhời chia sẻ cùng gia đình NS .
Thôi mời các ban đi cafe, có tin gì mình thông báo tiếp.

 

Chủ Nhật, 14 tháng 8, 2011


Toạ đàm về thổ phỉ

Inrasara: Thổ phỉ của Đoàn Hữu Nam ở Tọa đàm

Báo Đà Nẵng cuối tuần, 8-5-2011
Sáng ngày 23-4-2011, lần đầu tiên Hội Văn học – Nghệ thuật các Dân tộc Thiểu số Việt Nam tổ chức Tọa đàm văn học. Tiểu thuyết Thổ phỉ của Đoàn Hữu Nam vừa đoạt Giải A Văn xuôi của Hội là đối tượng được chọn. Nhà thơ Inrasara chủ trì Tọa đàm. Tham dự có mươi nhà văn, nhà phê bình khác, cùng 12 anh chị em học viên Lớp Bồi dưỡng Sáng tác VHNT dành cho các tác giả trẻ dân tộc thiểu số và miền núi.
Đây là tác phẩm có tiếng vang trong dư luận bạn đọc
.
Có thể khẳng định ngay rằng, thành công dễ thấy nhất ở Thổ phỉ là các trang soi chiếu cận cảnh ngôi nhà dân tộc miền núi, mô tả chi tiết về rượu của người vùng cao; về sinh hoạt xã hội của nhiều dân tộc thiểu số; thuốc phiện và thu thuế; cách yêu đương, lễ tục và hủ tục; các trận đánh lớn hay nhỏ, kéo dài hay chớp mắt cùng bao nhiêu kế hoạch, trò mị dân, xách động và mua chuộc, khống chế với răn đe, các cuộc thanh toán, cuộc đấu tranh tư tưởng, trận chiến tâm hồn ở từng cá nhân, cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể, gia đình và dòng họ, đối kháng giữa các dân tộc, các quan niệm. Vân vân…
Non nửa trăm sinh phận sống, yêu thương, lao động, chiến đấu cùng bao nhiêu hi vọng và tuyệt vọng, tội ác và hình phạt của họ. Cả các “nhân vật” Pháp, Nhật, Việt Minh, và dĩ nhiên – Thổ phỉ. Thổ phỉ như một bức tranh toàn cảnh của dân tộc miền núi phía Bắc ở một giai đoạn lịch sử nhiều biến động. Biến động lịch sử đất nước kéo theo bao nhiêu đảo lộn cuộc sống thanh bình của người miền núi bấy lâu.

Tuy nhiên nhà phê bình Lâm Tiến phê bình nội dung hiện thực phản ánh trong Thổ phỉ của Đoàn Hữu Nam không có gì mới, trừ cụ giáo Choong. Tất cả chi tiết trong tiểu thuyết đã thấy đây đó trong các tiểu thuyết viết trước đó. Cái được của Đoàn Hữu Nam là anh biết xâu chuỗi chúng lại để tạo thành bức tranh sinh động, khá đầy đủ về Thổ phỉ. Ba tuyến nhân vật phát triển theo thời gian vật lí và xảy ra trong không gian nhỏ hẹp. Hạn chế của Thổ phỉ là Đoàn Hữu Nam còn nặng lối viết chuyện kể, các chi tiết văn học chưa được chú ý đúng mức. Cả ngôn ngữ và tính cách nhân vật cũng thế. Nhà phê bình này còn nói thêm là phần kết thúc Thổ phỉ hầu như không nói được gì. Nó không gợi mở ra cái gì mới cho người đọc suy nghĩ. Nó chưa vượt qua được Rừng động, Hoa hậu xứ Mường, Đồng bạc trắng hoa xòe…

Dĩ nhiên ý kiến này của Lâm Tiến chưa được mọi người đồng tình. Sương Nguyệt Minh phản bác rằng không thể nói Thổ phỉ không có cái mới, hay nó lặp lại đề tài cũ, chi tiết cũ. Theo anh cái đáng quý nhất của Thổ phỉ chính là cách thể hiện. Đoàn Hữu Nam đã có nỗ lực rất lớn trong cách thể hiện qua nhiều trang văn, khác hẳn với nhiều tác giả đi trước khi viết về miền núi. Quan trọng hơn là anh Đoàn Hữu Nam đã khắc họa được nhân vật trí thức dân tộc thiểu số. Đây là điều ít có. Có chăng các nhân vật xuất hiện như con người chân chất. mộc mạc, chứ không đầy tính trí tuệ và hiểu biết như cụ giáo Choong. Chỉ điều này thôi cũng đủ nói lên giá trị của Thổ phỉ.

Còn Trung Trung Đỉnh cho rằng Đoàn Hữu Nam là người Kinh sống nhiều năm ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Anh đã lặn sâu vào cuộc sống hàng ngày của đồng bào, hiểu biết vùng núi rừng với bao ngõ ngách của nó. Nhiều đoạn trong Thổ phỉ được viết một cách thăng hoa, bay bổng. Các trang văn đó ra đời qua sự chiêm nghiệm dài lâu từ đời sống thực của đồng bào thể hiện bởi tinh thần nghệ sĩ trong anh. Đó là điều đáng quý nhất. Nó không giả vờ mà rất thực. Có thể gọi đó là huyền ảo núi rừng dân tộc Việt Nam cũng được. Cạnh đó, theo dõi Đoàn Hữu Nam ta thấy ở tác phẩm này, anh thoát khỏi kể mà đã có ý thức dựng truyện rất rõ nét.

Phạm Duy Nghĩa bổ sung về sự rậm rạp của khu rừng ngôn ngữ ở Thổ phỉ. Thế giới nhân vật ở đây cũng khá sinh động với những tính cách đa diện, đa chiều. Dù tiểu thuyết vẫn được viết theo phong cách hiện thực truyền thống, nhưng Đoàn Hữu Nam đã biết lạ hóa nghệ thuật của mình bằng những chi tiết, hình ảnh kì lạ. Tuy nhiên anh lưu ý phần kết tiểu thuyết có hậu và có vẻ hơi dễ dãi. Thổ phỉ ra hàng xuôi chèo, êm ả quá, không có bất ngờ…tướng phỉ nói năng hoa mĩ, chẳng khác gì một cán bộ tuyên huấn.

Tọa đàm lần đầu tiên của Hội nhưng đã diễn ra lí thú và hấp dẫn. Các nhà văn, nhà phê bình đã mổ xẻ khá chi tiết tác phẩm Thổ phỉ của Đoàn Hữu Nam.Đây là tiểu thuyết được viết theo phương pháp hiện thực. Và không thể nói là nó không thành công. Nhưng hạn chế nổi cộm nhất của nó chính là “cái nhìn của Thượng đế-tác giả” trong Thổ phỉ.
Trong khi tiểu thuyết đương đại của thế giới và phần nào ở Việt Nam đã rất khác. Trung tâm tiểu thuyết hết còn là nơi chốn vẫy vùng của riêng tác giả, mà đã được giao phó cho nhân vật – cho các nhân vật, với những cách thái biểu hiện đa thanh và độc đáo hơn. Thế giới văn chương là thế giới chứa đựng rất nhiều những khoảng trống. Khoảng trống nơi đó độc giả được trao cơ hội nhìn sự kiện hay nhân vật từ nhiều chiều khác nhau để có thể nhập cuộc đồng sáng tạo. Để lấp đầy các khoảng trống đó. Thế giới tiểu thuyết được mở rộng hơn, từ đó khả tính đời sống được nắm bắt linh động và đa diện hơn. Chúng mời gọi nhiều diễn giải hơn nữa.
Và chắc chắn, tiểu thuyết sẽ có sức hấp dẫn đầy tính [hậu] hiện

Thăm trang trại hoạ sĩ Đỗ Chung

    Hôm nay ngày lễ Vu Lan Hoạ sĩ Đỗ Chung đã tổ chức buổi gặp mặt anh em tai trang trại mà Hoạ sĩ mới tậu. Chả là cách đây khoảng một năm, đúng cái ngày hoạ sĩ đi nhân công tác mới về làm Phó hiệu trưởng trường Văn hoá - Nghệ thuật du lịch tỉnh Lào Cai cũng là ngày hoạ sĩ tậu được cái trang trại rộng gần hai héc ta. Để có dịp được khoe cái trang trại, như tôi nhìn thì cỏ nhiều mà cây thì ít này , cho nó oai, cho oách với bạn . Tổng diện tích ao có đến 5 sào bắc bộ chia làm hai ngăn. Cá thì nhiều vô kể đặc như thả trong chậu, chủ yếu là rô phi và cá chép loại cúng Ông Công. Theo chủ trại  khoe số cá ấy là chiều  hai ba tháng chạp năm ngoái đi ra chợ gặp cô bé  bán cá ế nó gạ vậy là mềm lòng  mua về thả, cứ như lời em lái cá nói thì chỉ nuôi khoảng ba tháng mỗi con cũng được 8-9 lạng . Tưởng bở Hoạ sĩ mua tất tật hết hơn hai  triệu tiền vốn. và đến bây giờ mỗi con khi cắn câu giật lên chỉ nhỉnh hơn hai đầu ngon tay. Tôi gỡ câu định bỏ giỏ thì chủ trại bảo cá nhỏ thả lại, đến chục lần như vậy Tôi nản . Cứ thả lại thì đến mai cũng không có mồi uống đâu thôi đành lớn bùi bé mềm bắt tất ông ạ.  Đúng là cá cảnh không thể là cá thịt được đâu Hoạ sĩ ạ. Thôi cứ đợi đến ngày Ông táo chầu trời gạn ao cho ban bè mỗi người ít con cúng Ông Công cho nó lành... lại được tiếng là thảo cho cá sạch. Theo như Hoạ sĩ thì trang trai này có để chó ị  cũng có lãi to rồi mà đôi ba tuần lại kéo được ít đoàn khách về khoe để uống cho sướng... Làm kinh tế nó phải thế chứ! Bái phục .
            Sau đây là một số hình ảnh hôm nay tại trang trại nhà Hoạ sĩ 

           Cái vẩy tay cho cá ăn cứ như gã vẩy cọ trên mặt toan trong sáng tác.. Rô phi loại 1kg khoảng 50 con nhiều phết.
 Vợ chủ trại phấn khới lắm lâu ngày chỉ cầm phấn đứng trên bục nay được nghịch đất cát , cây cỏ cứ như cô bé quê ngày nào. Vừa hái mướp vừa hát.


      Con này còn sót của chủ cũ to đấy vậy là may rồi

 Hoạ sĩ nhập vai mật thám hay đang nghĩ đến tác phẩm " Thiếu nữ bên suối thượng nguồn"
 Hôm nay có ông bạn Sơn là Giám đốc Ngân hàng Công thương một tay sát cá cực kỳ.
        Con trai Hoạ sĩ tự hào về bố mình, Con nhà tông có khác giống bố phết!
 Giám đốc NH -CT Yên Bái cũng lên tham dự giải thi câu
 Sản phẩm đang được chế biến theo công nghệ anh hai lúa
 Nhộn nhịp vào mâm sau lời tuyên bố của Hoạ sĩ  nghi thức uống rươu gì mà có vẻ nghiêm trang quá.
 Nóng quá Nhà văn Đoàn Hữu Nam đã cởi trần (còn gọi là Nhà văn" thổ phỉ" ) chả là tiểu thuyết thổ phỉ của Nhà văn họ Đoàn này đang xôn xao văn đàn Việt Nam . Cạnh nhà văn là doanh nhân Hoàng Uẩn tiếp theo có thầy giáo Sơn Phó hiệu trưởng trường sư phạm Lào Cai cũng đã trần hoá .
  Doanh nhân Hoàng Uẩn đã ngà ngà và chuyển thể thành ngâm thơ
             Cỗ to quá sản phẩm từ trang trại thật bõ công ...
            Tác giả nâng cốc chúc nhạc sĩ già Ngọc Lân sau khi được nghe tác phẩm mới sáng tác.
                     Nhà văn "thổ phỉ" tây tây đang đọc thơ " Dấu nối thênh thang" đến đoạn luyến dài.
Chủ trang trai đỗ Chung cũng ngả đôi câu chèo luột ra phết!


Bài anh này của Công Thế

Ở Huế

               "Dòng sông ai đã đặt tên để người đi nhớ Huế không quên/ Xa con sông mang bao nỗi nhớ , người ở lại tháng năm đợi chờ".... Câu hát ấy cất lên tư cái miệng xinh xinh của cô gái Huế ôi sao mà da diết, thiết tha thế, sao mà dùng dằng, khắc khoải thế. Từng ca từ, âm vực bay bổng như níu chân du khách để rồi bỗng mình thấy như không phải là  mình. Dòng Hương Giang dường như cũng chảy chậm hơn, êm đềm hơn, ngát hương một mui thơm hoang hoải  lạ lùng.
       Những ngày ở Huế ta có cảm giác như nhịp sống thong thả hơn, bởi những tà áo dài vương vãi mãi theo làn gió mỏng. Lời chào giọng nói ngọt ngào mà Vương giả, thâm trầm mà  nền nã, ...
                               Sau đây là một số hình  ảnh ở Huế  của hè mới qua.
           Cầu Trường Tiền đêm nay không bật đèn màu xấu quá

      Ca Huế trên sông Hương
         Chụp ảnh cùng các nghệ sĩ trên đò
           Cô này mê giọng Huế ngọt ngào dễ thương mê cả ca sĩ đẹp trai nữa.
 Sen trong Đại Nội đã đang ngát hương
          


 Bình minh trên Ngọ Môn Huế
             
       Bên cầu An Cựu
 Những bông sen còn đọng hơi sương đang được đôi tay thon mềm của cô gái Huế bó bán chào buổi sáng.
                             Bài ảnh : Công Thế

Chủ Nhật, 7 tháng 8, 2011

Nhớ về biển

Bài này đã làm lâu nhưng hôm nay thấy nhớ biển Pots lên chơi
   Công Thế

                  Đến biển Cửa Lò
                                 Tặng M B
                                               
Anh về với biển Cửa Lò
Đâu rồi? chỉ mình anh và biển
Gió bâng khuâng hoang hoải
Miết tìm - dấu chân vời vợi

Biển bao la sóng dạt dào phóng túng
Cát mịn màng trầm mặc ngây ngô
Hồ nghi một lần mình đến biển
Chiều hoàng hôn ngang bước sánh đôi

Biển vô tư sóng đổ vô hồi
Cát miên man trắng nhòa trong nắng
Gió mặn mòi, ngọt đắng

Ai có về biển Cửa Lò ?
                                              
                                      8/11/2009





Thứ Tư, 3 tháng 8, 2011

bài từ bọ lập


Nghĩ về vụ Nguyễn Chí Đức

Nhà văn Nguyên Ngọc
 Ngày hôm qua, bên cạnh vụ tòa phúc thẩm Hà Nội y án đối với Cù Huy Hà Vũ – việc chắc chắn không chỉ trong 10 năm nữa (7 năm tù và 3 năm quản chế) mà còn rất lâu, rất lâu nữa chưa yên, không thể yên đâu; còn có một việc trông có vẻ nhỏ hơn nhiều nhưng theo một cách nào đó cũng quan trọng không kém: Việc ông giám đốc công an Hà Nội Nguyễn Đức Nhanh chính thức trả lời dư luận về vụ đàn áp biểu tình yêu nước ngày 17-7-2011, nói rõ ràng rằng không hề có đàn áp, chỉ giữ trật tự giao thông thôi, chính anh Nguyễn Chí Đức, người bị hại, cũng công nhận trước cơ quan điều tra “không bị ai đánh, chỉ có sự xô xát khi đưa anh Đức lên xe buýt”. Nghe rất hiền lành và ngon ơ! Thì sáng nay, phóng viên Khánh An của đài RFA công bố toàn văn trả lời của anh Nguyễn Chí Đức. Anh Đức phẩn nộ nói: “Nội dung họ bảo tôi khẳng định không bị đánh là sai. Thực sự tôi đã nói là tôi bị đạp nhưng tôi không xác định ai là người đạp vào mặt tôi. Lúc ấy ở cạnh xe buýt, mình không biết ai đạp cả, bị đạp xong mình rất tá hỏa. Tôi đã nói thế rồi. Nhưng điều này mới quan trọng, lúc ấy làm việc với rất nhiều công an thành phố, viện kiểm sát và với cả giám đốc công ty tôi là bí thư đảng ủy thì tôi đã chỉ mặt tất cả những người công an ở đấy bảo là “Tôi làm việc này là vì Đảng…”.
Vậy lần này, thưa ông Nguyễn Đức Nhanh, ông trả lời thế nào với Nguyễn Chí Đức, với Khánh An của RFA, và với công luận đây?
 Trong việc này còn có một điều rất đáng chú ý: Qua tất cả vụ việc, qua những ứng xử của Nguyễn Chí Đức từ khi tên anh được nhắc đến, ta có thể thấy rõ đó là một con người hết sức bình thường, rất an phận, không hề không muốn làm bất cứ điều gì để khác dù chỉ một chút những người chung quanh, một công dân lẫm lũi và tội nghiệp, ngay cả khi bị hại nặng nề cũng sẵn sàng cho qua, quên đi, “không muốn đi quá sự việc” như anh nhiều lần nói khi có người quan tâm đến anh và vụ của anh. Một người tuyệt đối trung thành và tin tưởng ở đảng, trong bất cứ tình huống nào, ngay cả lúc bị hại khi mình đấu tranh vì đảng, vì nước  …, vâng một người  như vậy đấy, chứ không phải một người anh hùng kiểu Cù Huy Hà Vũ mà Ngô Bảo Châu đã so sánh với những người anh hùng trong lịch sử; không, một người vô cùng nhỏ bé và vô danh, luôn muốn thu mình lại đến mức nhỏ bé nhất để sống yên thân …, con người tội nghiệp ấy bây giờ sau tuyên bố bỉnh thản của ông Nguyên Đức Nhanh, đã phải đau đớn nói rằng anh đã bị đẩy đến đường cùng.   
Dài một chút nhưng tôi nghĩ ta nên chịu khó nghe lại lời Nguyễn Chí Đức nói với RFA: “Các bạn nên nhớ báo Hà Nội Mới là cơ quan ngôn luận của đảng ủy Hà Nội chứ không phải là một tờ báo bình thuờng, báo giải trí, báo Dân Trí hay VnExpress, những báo đấy đối với tôi không quan trọng nhưng báo Hà Nội Mới, chính nghĩa nó khác hẳn. Tôi rất buồn. Tôi nói chuyện với một anh công an thành phố, tôi nói với anh là “Các anh làm thế là các anh đẩy em vào đường cùng rồi. Nó làm mất danh dự của em. Cú đạp đối với em không có ý nghĩa gì cả, nhưng các anh làm thế là coi như tất cả họ hàng, bạn bè, đồng nghiệp cơ quan họ đọc bài báo đấy thì họ nghĩ em là cái gì? Trong khi đó, sự thật vẫn là sự thật”.
Tôi đang rất phẫn nộ, rất buồn. Bố mẹ tôi đã rất phẫn nộ. Lúc đầu tôi giấu sự việc ấy để không cho ai biết. Bố mẹ tôi không biết, tại vì tôi biết bố mẹ tôi xem cái (video clip) đấy là rất phẫn nộ nên tôi giấu. Nhưng có 4 người công an, trong đó có công an phường, công an thành phố, đến nhà tôi thì bố mẹ tôi lúc đầu còn trách móc tôi là tại sao lớn rồi còn đi biểu tình, tại sao ra đấy làm gì cho người ta bắt bớ cho nó khổ mà chả giải quyết được gì cả. Nhưng sau khi bố mẹ tôi xem phóng sự đấy, bố mẹ tôi rất phẫn nộ và bố tôi nói luôn: “Đây là quân phát xít!”.
Thưa ông Nguyễn Đức Nhanh, bố mẹ Nguyễn Chí Đức gọi những người lính của ông như vậy đấy, ông trả lời sao?
 Khi một Cù Huy Hà Vũ hay các nhân sĩ trí thức tên tuổi lên tiếng, tất phải rất suy nghĩ. Người xưa gọi đó là “Sĩ phu quay mặt”
Nhưng khi những người ở tận đáy xã hội, nhỏ bé nhất trong xã hội, suốt đời chỉ mong được yên phận như Nguyễn Chí Đức và bố mẹ anh đã thấy bị đẩy đến đường cùng, đã thấy xã hội này là không còn sống được đối với họ nữa, thì là chuyện khác hẳn rồi đấy. Là báo động đỏ!
 Vụ Nguyễn Chí Đức không hề nhỏ đâu, đặc biệt sau tuyên bố phủi tay của ông Nguyễn Đức Nhanh. Có gì như là dấu hiệu của sự tận cùng.
N.N
Tác giả gửi cho Quêchoa


 
i
256 Phiếu
Quantcast

Bài đăng phổ biến