Tìm kiếm Blog này

Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2011

Thẳm xanh Cù Lao Chàm ( bài nay đã đăng trên báo du lịch Việt Nam)

   Thắm xanh Cù Lao Chàm
                                             Bài ảnh: Công Thế
Trong chuyến du ngoạn “con đường di sản Miền Trung” đã cho tôi bao điều bổ ích. Nhưng có lẽ thú vị và ấn tượng nhất đối với tôi đó là chuyến theo tàu ra đảo Cù Lao Chàm. Một hòn đảo còn hoang sơ thô mộc đến ngỡ ngàng và đầy quyến rũ, đặc biệt là màu xanh, xanh đến ngát mắt, xanh đến thăm thẳm, màu xanh cứ miên man làm nao lòng …
Trời xanh mây trắng giăng giăng, biển xanh sóng vỗ rì rào,  rừng xanh chim hót líu lo, Em xinh giọng Quảng mặn nồng dễ thương…Người dân thân thiện và mến khách. Đó là những gì tôi gặp, thấy trên đất đảo này.
Cù Lao Chàm còn được gọi là viên ngọc xanh của đại dương. Cù Lao Chàm là một xã cụm đảo mang tên Tân Hiệp thuộc Thành phố Hội An Tỉnh Quảng Nam. Giữa vùng biển yên bình đầy nắng và gió. Cái nắng ở đây nó dìu dịu không gắt gỏng, ngột ngạt như ở trong đất liền. Không biết có phải do cái màu xanh thăm thẳm của biển của rừng, của dừa kia lấn át hay không? mà nắng cứ vàng ươm, đãi đàng trải khắp. Gió cứ rào rạt phóng túng, phiêu diêu du hồn lữ khách. Những vườn dừa xanh ngát xoã tóc bay trong gió, những bãi tắm cát trắng mịn màng, ngả ngớn duỗi dài trong làn nước xanh trong như không thể trong xanh hơn được nữa. Phong cảnh sơn thuỷ hữu tình, nơi nghỉ mát tham quan thật lý tưởng.


                                              Cầu cảng bình yên
 “ Đây Cù Lao Chàm sóng nước quyện trời xanh” Câu thơ của Tường Linh được người bạn Hoàng Xuân Trung người gốc xứ Quảng đọc cho nghe như đã tiếp thêm động lực cho chúng tôi lên tầu ra đảo. Anh hiện là sĩ quan quân đội công tác tại bộ chỉ huy quân sự Tỉnh Quảng Nam. Với lòng hiếu khách nhiệt tình bạn thân  lâu ngày gặp lại, đã tình nguyện làm hướng dẫn viên không chuyên cho đoàn thăm đảo.
Từ cửa Đại du khách có thể lên tầu cao tốc của Công ty đầu tư và phát triển Cù Lao Chàm. Rồi chỉ trong vòng chưa đầy 30 phút bồng bềnh trên sóng nước xanh thẫm của đại dương, ngửa mặt nhìn trời, nhìn nước mênh mông, ngắm bầy hải âu sải đôi cánh chập chờn để lòng mỗi người bỗng thấy bâng khuâng xa nhớ điều gì chưa rõ nét, thì tầu đã đưa ta đến đảo. Hoặc theo tàu chợ ngày hai chuyến xuất phát từ cửa Đại hoặc bến Phố cổ Hội An khoảng 1 đến 2 tiếng sau quý khách cũng đã đặt chân lên cầu cảng Bãi Làng đó là cảng lớn nhất Cù Lao Chàm.
Cù Lao Chàm trong bách khoa toàn thư ghi theo bản đồ Tây Phương xưa với tên “Champello” lấy từ tiếng Nam - Ấn (Autronesian) “PulauChampa”. Cù Lao Chàm còn có các tên khác như Chiêm Bất Lao, Tiêm Bích La, Ngọa Long. Tại đây có nhiều di tích thuộc các nền văn hóa Sa Huỳnh, Chăm Pa, Đại Việt. Có các công trình kiến trúc của người Chăm và Việt có niên đại vài trăm năn tuổi. Có di chỉ khảo cổ học khai quật tại Bãi Làng, Bãi Ông, các hiện vật có niên đại trên 3.000 năm điều đó chứng tỏ con người đã sinh sống và chế tác các vật dụng sinh hoạt khá tinh xảo. Đã thực sự được khơi mở để  khẳng định nền văn hoá lịch sử lâu đời trên cụm đảo Cù Lao Chàm này. Tại nhà trưng bầy các di cảo tại Bãi Làng ta thấy các hiện vật đồ gốm, đồ đồng và các hiện vật gốm thời Chu Đậu được tìm thấy tại các tàu buôn bị chìm quanh đảo.

                         Du khách thoả sức mua sắm quà lưu niệm trên đảo
Cù Lao Chàm cách bờ biển cửa Đại hơn 10 hải lý tương đương với 19km, ở vào toạ độ địa lý 15 độ 15 phút 20 vĩ độ bắc, 108 độ 23 phút kinh độ đông. Cụm xã đảo Tân Hiệp có điện tích 15,5 km2 dân số 1100 hộ gần 3000 người. Có tám hòn đảo lớn nhỏ gồm: Hòn Lao, Hòn Dài. Hòn Mồ ( hình dáng giống như ngôi mộ) Hòn Khô Mẹ, Hòn Khô Con, Hòn Lá, Hòn Tai, Hòn Ông. Đỉnh cao nhất trên hòn Lao 517 mét, quanh đảo mực nước khá sâu thuận lợi cho thuyền bè lớn neo đậu nghỉ ngơi hoặc ẩn trú khi bão gió trên hành trình thương thuyền biển đông, điểm sâu nhất trên 60 m. Với diện tích toàn đảo 15,5km2 thì trong đó rừng nguyên sinh chiếm đến 90% chỉ có 14 ha đất canh tác và 4 ha đất thổ cư. Cư dân sinh sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt hải sản. Kể từ khi Cù Lao Chàm được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới. Người dân nơi đây đã chuyển một phần lao động sang hoạt động kinh doanh du lịch và dịch vụ nhưng vẫn giữ được bản chất thật thà, thân thiện và mến khách.
          Cù Lao Chàm cách bờ biển Cửa Đại hơn 10 hải lý, tương đương 19km. Cụm xã đảo Tân Hiệp có dân số gần 3.000 người, với 8 hòn đảo lớn nhỏ. Đỉnh cao nhất trên hòn Lao là 517 mét, quanh đảo mực nước khá sâu, thuận lợi cho thuyền lớn neo đậu nghỉ ngơi hoặc ẩn trú khi bão gió trên hành trình thương thuyền biển Đông, điểm sâu nhất trên 60 m. Với diện tích toàn đảo 15,5km2 thì rừng nguyên sinh chiếm đến 90%, có 14 ha đất canh tác và 4 ha đất thổ cư. Cư dân sinh sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt hải sản. Kể từ khi Cù Lao Chàm được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới, người dân nơi đây đã chuyển một phần lao động sang hoạt động kinh doanh du lịch và dịch vụ nhưng vẫn giữ được bản chất thật thà, thân thiện và mến khách.

           Anh bạn Hoàng Xuân Trung hăng hái đưa chúng tôi thăm đảo theo chương trình. Thăm chợ Bãi Làng, chúng tôi thưởng thức và mua sắm các sản phẩm từ biển làm quà lưu niệm. Thăm các di tích lịch sử như: Lăng Ông, miếu Bà, miếu Thần Nông, miếu thờ Tổ Nghề Yến, chùa Hải Tạng, giếng cổ Chăm. Các di tích ở đây có niên đại hàng trăm năm, thiết kế xây dựng theo kiểu cư dân vùng biển bão gió, khá độc đáo và còn nguyên vẹn. Đến Cù Lao Chàm, du khách còn được thưởng ngoạn tắm, lặn xem san hô. Dải san hô ở đây trải rộng trên 165 ha, gồm 188 loài, 61 giống, 13 họ và nhiều rong tảo quí hiếm. Với làn nước trong vắt, nếu du khách nào không muốn tắm, lặn có thể nhìn san hô qua thuyền đáy kính, đủ các màu sắc như thủy cung. Nếu du khách có thời gian hãy đi thăm nghề khai thác yến sào trong các hang đá chênh vênh trên đảo.


                     Tác giả bên bến làng dưới chân là sàn mực phơi thơm phức
 
                 Cù Lao Chàm có hệ sinh thái phong phú và đa dạng. Bước chân lên đảo có nhiều điều thú vị, nhưng với tôi cũng như nhiều du khách ấn tượng nhất vẫn là màu xanh hoang sơ của rừng. 1.549 ha rừng cơ bản là nguyên sơ, nhiều loại quí hiếm hàng trăm năm tuổi như: thiên tuế, kền kền, dẻ chua… các dược liệu quí chất lượng tốt như: mã tiền, ối tím, ngũ gia bì… có đến gần 200 loại dược liệu. Động vật có 12 loài thú, 13 loài chim, 130 loài bò sát và nhiều loài lưỡng cư hiếm. Đặc biệt, hai loài chim yến và khỉ đuôi dài có tên trong sách đỏ. Hải sản quí đặc sản nhiều nơi không có như: ốc hương lệ, ốc vú nàng, hải sâm, đồi mồi, cua đá…

                Trong cái miên man của rừng, của biển, âm âm những ngọn sóng đổ dài lên bãi như tiếng vọng xa xôi của quá khứ về bờ cõi thiêng liêng trên biển Đông. Chúng tôi ngồi quanh bên bếp than nướng những con ốc vú nàng bốc thơm phưng phức. Một con ốc, một tợp rượu, anh bạn cất giọng Quảng nặng nồng nhưng ấm áp. "Ra lao nhớ ghé bãi Làng/Hỏi thăm hương lệ, vú nàng lớn chưa/Anh hỏi thì em xin thưa/Vú nàng đã lớn nhưng chưa ai sờ"... Câu ca làm cho mấy cô thoáng đỏ mặt, nhưng sau nghĩ ra loài ốc đặc sản vú nàng đã làm mọi người cười ngả nghiêng cả chiều đảo. Rồi lại được nghe anh bạn khoe chuyện phương hướng phát triển du lịch của chính quyền địa phương nơi đây, nào là xây dựng các khu nghỉ dưỡng sinh thái cao cấp rộng hàng trăm ha tại bãi Hương, bãi Bìm. Khu RESORT cao cấp 5 sao rộng 4 ha tại bãi Ông. Có hơn hai chục công ty tầm cỡ xuyên quốc gia vào khai thác du lịch tại Cù Lao Chàm. Rồi, rồi... Tôi nghe mà thấy cứ rộn cả người lên. Khai thác du lịch đó là hướng đi đúng. Khai thác tiềm năng để phát triển kinh tế địa phương tạo việc làm cho người dân, nhưng phải hài hoà môi trường sinh thái, phải bền vững...

           Cảm ơn màu xanh Cù Lao Chàm đã cho tôi một ấn tượng khó phai!

Cư dân Cù Lao ra tận bến cảng đón khách
 

Biển xanh trong vắt cù Lao Chàm
Vịnh Hòn Ông thiên đường bãi tắm



                                      
 Các nàng tiên cá trên bãi hòn Ông
                  Bài
Ảnh của Công Thế  Hội VH-NT Lào Cai

Thứ Bảy, 2 tháng 7, 2011

        
    Giấc mơ trên vòm xanh


            

                                            

                                                                 Tản văn của Công Thế
Trong giấc ngủ chập chờn, tôi hay mơ, có những giấc mơ lãng mạn bay bổng dắt díu tâm hồn tôi về miền ký ức với bao điều thơ dại, có những giấc mơ làm tôi khiếp sợ khi tỉnh rồi không dám ngủ tiếp. Có những giấc mơ như mắc nợ với đời không đầu không cuối. Có giấc mơ hào sảng với một niềm tin cháy bỏng. Và như giấc mơ hồi hôm. Giấc mơ bay trên vòng xanh quê hương….
Ngoài trời lất phất mưa xuân, tiếng lách tách của giọt nước mái hiên như nhịp thở của thời gian, buồn buồn gõ vào đêm yên tĩnh, dường như sự tĩnh lặng của trời đất trong khoảnh khắc giao mùa có điều gì linh diệu kỳ lạ. Hãy nhắm mắt lại tĩnh tâm lắng nghe chiêm nghiệm, đúng rồi tiếng tí tách của mầm non đang cựa trên cành, tiếng của sự sinh sôi vạn vật đang chuyển mình theo vòng quay luân chuyển của tạo hoá.
Cây sấu đầu ngõ mùa nay đang kỳ thay lá, chỉ một làn hơi thở rất nhẹ của trời đất cũng đủ làm những chiếc lá vàng bay bay lìa xa cành bâng khuâng tiếc nuối. Tiếng lá rơi rất nhẹ trong thinh không hình như nó không muốn gây nên sự ồn ã làm mất đi sự tinh khiết của đêm tĩnh lặng. Để sáng ra ta đã thấy thảm lá vàng phủ quanh gốc. Lá vàng xào xạc làm nao lòng mỗi bước chân qua. Tôi nhiều khi hay nghĩ vẩn vơ, sao lá sấu lại trút vào cuối xuân đầu hạ? Sấu thay lá rất ý nhị, kín đáo, bẽn lẽn, thẹn thùng như thiếu nữ mới về làm dâu. Sự kín đáo đó khác hẳn với cách sỗ sàng trút bỏ hết “ xiêm y” như vài loài cây khác. Từng chiếc, từng chiếc lá cứ âm thầm lặng lẽ lìa cành, thay vào đó lại bật lên mầm xanh tươi mới. Sự chuyển giao, kín đáo, khiêm nhường, bạn tôi còn ví von hình tượng “ như sơn nữ tắm suối chỗ đông người” kín đáo, nhẹ nhàng, nước đến đâu, váy áo vén cao đến đó.
 Trong vòng khoảng năm đến bảy ngày lá già rụng hết vừa lúc cả vòm xanh nõn, chùm khắp tán, tầng. Và cũng là lúc những chùm hoa ly ti đã nhú đầu cành báo hiệu một mùa quả chua nấu dấm…
 Mỗi cây mỗi vẻ có loài trút lá hết vào mùa đông chỉ còn trơ lại những cành khẳng khiu buồn tẻ, có loài thay lá vào mùa thu khi heo may thoảng buồn.... Nhưng chung quy lại mọi sinh vật khi đông qua xuân đến hạ về tiết trời ấm áp bao trùm sự sinh sôi cùng nhau tung tẩy, đâm chồi nẩy lộc, hớn hở đón chào nắng mới. Sự khác biệt của từng cây, từng loài có những vòng sinh học khác nhau, đời cây cũng như đời người trong thế giới muôn hình muôn vẻ…
Trong miên man suy nghĩ, trong chập chờn mộng mơ tôi như thoát xác, như bay trên vòm trời cao mênh mông trong xanh, trên các vòm  xanh nõn nà hoa lá. Trong sự lãng du, hư hư, thực thực. Bay ở trên cao, tầm  nhìn như được rộng hơn, xa hơn bao quát hơn. Nói theo cách nhìn minh  triết, có tầm vĩ mô hơn. Không như ta nhìn ở mặt đất với tầm nhìn vi mô, có khi còn cho là tầm nhìn thiển cận.
Giấc mơ tôi đang bay trên chồi non e thẹn của hàng cây bàng xếp hàng ngay ngắn trên phố, bay trên màu xanh rì của hàng hoa sữa, với những chùm quả đang tách nở những hạt nhỏ có đôi cánh bông bông mầu nâu như đôi cánh thiên thần tí xíu, những hạt nhỏ mong manh đó lại có sức sống kỳ diệu, nương nhờ làn gió nâng đỡ, tung tẩy gieo sự sinh tồn lan xa.
Tôi bay trên lộc non tím hồng phơn phớt của lộc vừng, của bằng lăng. Tôi mê mải với màu tím hồng của lá non cây bằng lăng. Những mầm non nhỏ xíu non nớt run rẩy trong nắng mới, những mầm non lấn lướt trong sự ngơ ngác của những chùm quả khô mùa cũ còn đeo trên cành. Lộc non của bằng lăng nhìn như lá non của hoa mai, gợi cho tôi nhớ đến một mùa đông phương nam chan hoà nắng ấm…
Giấc mơ tôi bay xa hơn, cao hơn trên vòm xanh của đất nước. Màu xanh lan xa bất tận của sự sinh sôi no ấm phồn vinh. Màu xanh bát ngát của lúa đang thì con gái hứa hẹn mùa vàng bội thu. Cái màu xanh ấy lung linh đã cưu mang dân tộc ta qua hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước. Màu xanh mang danh vinh cho Quốc Thể của nền văn minh lúa nước và đưa nước ta đứng hàng nhất nhì về xuất khẩu lương thực trên thế giới, mỗi năm màu xanh ấy đem về hàng tỷ ĐÔLA Mỹ kim. Cây lúa gắn bó với dân tộc ta ngàn đời nay. Thử hỏi đất nước này mấy người khi sinh ra không từ nông thôn, ai cũng có một miền quê yên ả.
Ta sinh ra từ luống cầy của cha, từ mặt ruộng thánh thót mồ hôi mặn mòi của mẹ, từ mùi tanh của bùn đất, mùi thơm nồng rơm rạ ngày mùa. Màu xanh yêu thương làng quê che chở, nuôi dưỡng thành người, cho ta đôi cánh bay nhảy bôn ba muôn phương. Nhưng dù có đi đâu làm đến việc gì nữa thì cũng đừng quên hạt lúa củ khoai nơi thôn dã nuôi ta khôn lớn và đằm lòng câu ca “ Ai ơi bưng bát cơm đầy/ dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.”
 Đành rằng một nước phát triển là một nước có nền công nghiệp hiện đại. Không ai có quyền cản trở níu kéo sự phát triển đó.  Nhưng không phải là tất tất…Đừng phũ phàng vội vã mà mắc tội với màu xanh truyền kiếp. Đừng để màu xanh bờ xôi ruộng mật trở thành màu vàng úa chết chóc, hoang tàn, cát sỏi của những khu công nghiệp với những dự án treo, treo mãi, dự án trá hình… trong khi người dân thèm đất sản xuất, lao động thất nghiệp, nhìn đất mà tiếc, giá như…. Đừng để màu xanh của bờ xôi, ruộng mật thành màu cỏ ngoại được chăm sóc, tưới tắm hóa chất, trên sân gôn, trò chơi tiêu khiển đó chỉ giành cho số ít người và kẻ nhiều tiền.
Giấc mơ tôi bay theo rộng dài đất nước, từ miền xuôi lên miền ngược, từ màu xanh lam của đại dương lên màu xanh thẫm của đại ngàn, một màu xanh cho bao hy vọng và cũng có màu cho tôi nghĩ suy, trăn trở, nhiều khi thấy mong manh…Đâu rồi dòng sông thơ mộng xanh trong nơi tuổi thơ tôi tắm mát những chiều hè, còn đâu “ Cùng một bến sông con trâu đằm sông dưới/ Bảy trẻ thơ tắm mát phía thượng nguồn / Một dòng sông xanh chảy mãi đến vô cùng” (Thơ Lê Huy Mậu) Những dòng sông xanh đang bị đầu độc đã thành dòng sông chết đen ngòm, rác rưởi, hôi thối, mà nguyên nhân do con người gây nên.
Giấc mơ tôi bay trên các đại ngàn, những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn xưa kia nay loang nổ da báo, suy tàn bởi lòng tham của con người, mà thường gọi là giặc rừng “lâm tặc”. Bằng nhiều hình thức, nhiều kiểu, nhiều cách, núp sau các bức chướng để “cắt cổ” rừng. Nói vậy có thể chưa hoàn toàn đúng nhưng rừng đang bị xâm hại nghiêm trọng. Màu xanh của đại ngàn, tài nguyên của quốc gia kêu cứu. Màu xanh là cái nón đội đầu của đất nước, chiếc nón đó che chở khi trái gió trở trời được yên hàn. Màu xanh vĩnh cửu đem lại phồn vinh, yên bình…
Giấc mơ tôi bay trên vòm xanh rong ruổi đến mệt nhoài. Một giấc mơ thăng bằng và mất thăng bằng chấp chới. Cuối cùng giấc mơ đậu về vòm xanh cây sấu già thân cành xù xì, u bướu trước ngõ. Giật mình bừng tỉnh, cây sấu già…/.
                  
           
            Ngày đầu hạ năm Mão
                           C. T
                                Địa chỉ: Hội VH-NT Tỉnh Lào Cai

Thứ Sáu, 1 tháng 7, 2011

Đà Nẵng biển gọi

                                                 Bình minh trên bãi tăm Mỹ Khê
                                          Cùng sóng nước Sơn Trà
                                                  Mải mê ngắm chụp bình minh
                                           Và những người CN luôn làm sạch biển
                                              Hoàng hôn khuất sau đèo Hải Vân
                                             Ô nước biển mặn quá em sợ rơi kính và răng giả quá chị ơi

ký sự Dưới noc nha đông dương

Trên đèo Khau Co
                                                                            
ký sự của Công Thế
          Trong những lần đi điền dã, tôi thấy thú vị nhất vẫn là chuyến đi vòng quanh nóc nhà Đông Dương, chuyến đi này tôi khám phá và hiểu biết nhiều điều hơn tôi tưởng. Các vùng đất, cuộc sống, các bản làng và phong tục tập quán của các tộc người cùng cảnh sắc thiên nhiên dưới chân nóc nhà mang nhiều huyền thoại này còn bao điều mới lạ, kỳ bí. Như cho tôi đi ngược về cội nguồn văn hoá bản địa, ở đó tất cả là một bảo tàng sống thuộc nhều lĩnh vực khác nhau tuỳ theo sở thích phám phá của mỗi người. Tất cả cứ hiển hiện lên hồn nhiên, trong veo như mây ngàn gió núi, như cỏ cây hoa lá …
Những câu chuyện kỳ bí…






Bản Tu Thượng thuộc xã Nậm Xé Huyện Văn Bàn Lào Cai nằm  cheo leo trên lưng chừng núi,  gần chân đèo Khau Co. Đến đây ta còn được nghe, được biết những câu chuyện kỳ bí. Có câu chuyện đã trở thành truyền thuyết đầy ly kỳ khó tin. Những lời đồn đặt đó đã trở thành nỗi sợ hãi, khiếp đảm, cho bao người. Lời đồn thổi như cơn gió độc lan truyền ra khắp vùng Tây Bắc rằng“Người Mông xanh trên đèo khau co ăn thịt người” ấy là câu chuyện đã có cách đây mấy mươi năm nay. Những lời truyền ác nghiệt đã đeo bám như vòng kim cô thít vào thân phận người Mông xanh bản Tu Thượng, đã đẩy làng người Mông xanh thành “ Ốc đảo” bị cô lập với thế giới cộng đồng, các tộc người khác xa lánh khiếp sợ.
Theo già làng cụ Vàng Thị Ly kể lại, thời thực dân Pháp đô hộ dân bản vô cùng cực khổ. Ngày ấy dân bản hay săn bắn được thú rừng, theo lệ phải cống nạp cho quan Pháp. Một hôm bẫy được con Căng (theo tiếng địa phương) đó là một loài linh trưởng quý hiếm có tên trong sách đỏ mà hiện nay đang bảo tồn có nguy cơ tuyệt chủng “T.G”. Nhưng vì dân làng đói quá đem thịt ăn. Nghe tin dân bản bẫy được thú quí bọn chúng mò lên, khi quân Pháp đến khám xét mọi người đành nói dối là đói quá không còn gì ăn đành đem luộc thịt đứa trẻ con bị ốm, để ăn. Bọn Pháp không tin xông vào bếp dùng lưỡi lê hất tung lắp phên đậy chảo ra, trong màn khói mờ ảo của chảo nước đang sôi sùng sục, thấy đôi bàn tay con thú giơ lên, trắng hếu lộ ra như tay đứa trẻ, mấy tên lính Pháp phồng mồm, trợn mắt quáng quàng chạy mất hút. Mẹo cứu đói, giành thịt đã thành lời đồn đại oan nghiệt cho người dân Mông xanh Tu Thượng, lời đồn oan nghiệt đã theo vết giầy của lính Pháp lan truyền đi khắp vùng Tây Bắc. Từ đó người Mông xanh Tu Thượng phải sống co cụm không giao tiếp với các tộc người khác, bị xã hội xa lánh tẩy chay. Trai gái trên bản Tu Thượng nơi mù sương này đến tuổi trưởng thành lấy lẫn nhau kể cả anh em cận huyết thống. Dẫn đến những tác hại suy kiệt ảnh hưởng đến giống nòi. Những đứa trẻ sinh ra chậm phát triển trí tuệ , hay mắc các bệnh như bại liệt, thần kinh…những thanh niên trưởng thành chiều cao chỉ khoảng 1,5 mét. Tác hại của hôn nhân cận huyết còn ảnh hưởng nhiều thế hệ cho đến ngày nay.
Cũng có chuyện kỳ bí kể về người Mông xanh có phong tục thực táng. Điều này đã kích thích trí tò mò, tôi luôn để tâm tìm hiểu. Đã nghe và đọc sách báo, các tài liệu. Thực tế trên thế giới có nhiều cách mai táng người quá cố khác nhau, tuỳ theo phong tục, tập quán tín ngưỡng, tôn giáo của từng tộc người. Ngoài những cách thông thường còn có những hình thức mai táng lạ. Ở vùng Tây Tạng Trung Quốc xưa có phong tục thiên táng,( điểu táng) đó là hình thức mai táng kỳ lạ man rợ. Khi người thân qua đời họ tiến hành các thủ tục nghi lễ cúng bái rất cầu kỳ cốt cho linh hồn người chết được siêu thoát rời bỏ thể xác. Các thủ tục, nghi lễ xong, những thanh niên trai tráng đem xác người chết lên trên núi cao chặt nhỏ tãi phơi trên núi đá để một loài chim đến ăn, vậy là xác người được lên trời xanh theo mây khói. Hình thức thuỷ táng thì tương tự như thiên táng chỉ khác là họ thả xuống dòng sông cho cá ăn. Bên Ấn Độ đến ngày nay vẫn còn phong tục đưa người chết trên bè gỗ rồi hoả táng trên đoạn Sông Hằng linh thiêng nhất, họ quan niệm như vậy thì những linh hồn người chết sẽ được mát mẻ, may mắn như một đặc ân về cõi vĩnh hằng.
 Một vài hình thức mai táng lạ trên đến nay chỉ còn là những câu chuyện truyền thuyết. Còn người Mông xanh Tu Thượng có tục thực táng ( ăn thịt người chết) hay không thì cho đến nay vẫn chưa có cơ sở nào khẳng định, đó chỉ là những lời đồn đặt nhảm nhí dựa theo câu chuyện thịt thú rừng như ở trên. Ở Tu Thượng cũng như các bản làng vùng cao Lào Cai ngày nay cuộc sống đang thay đổi từng ngày các hủ tục, lạc hậu đã được bài trừ, người dân đang được sự quan tâm của Đảng và nhà nước bằng các chính sách như chương trình 135, 134,… các hạ tầng cơ sở được cải thiện, điện, đường, trường trạm. Tất cả đã làm thay đổi diện mạo của nông thôn miền núi. Đời sống văn hoá mới như những cơn gió mát lành thổi khắp vùng cao lũng thấp.
Có thời gian còn rộ lên những câu chuyện kể về nguồn gốc người Mông xanh Tu Thượng trên đèo Khau Co, Nậm Xé Văn Bàn là người AiNu bên Nhật Bản. Đây cũng là câu chuyện trong màn bí ẩn. Trong dịp đi này tôi không thể không quan tâm và tìm tòi các nguồn thông tin từ chính những người dân nơi đây. Đến bản Tu Thượng được nghe những người già họ thường kể lại cho con cháu nghe, tổ tiên của họ có nguồn gốc từ đất nước mặt trời mọc. Xét về phương diện từ trang phục, dáng mạo, âm ngữ có những nét tương đồng với người Nhật Bản. Trong lúc trò chuyện vui vẻ với ông Vàng A Dính, chủ tịch hội nông dân xã Nâm Xé về nguồn gốc của dân tộc minh và cuối cùng ông kết lại câu nói đầy hào sảng và chí lý pha chút hóm hỉnh: Chúng tôi ở dưới chân núi Hoàng Liên Sơn của Việt Nam là người dân tộc Việt Nam. Câu nói làm cho chúng tôi sững sờ vì nó chính xác đến trăm phần trăm, chẳng có gì phải bàn nữa… Cho đến nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa tìm thấy ở nơi nào khác có người Mông xanh như ở đây. Có tài liệu cho biết người Mông xanh di cư đến Nậm Xé Văn Bàn vào khoảng từ năm 1840 thời Thái Bình Thiên Quốc. Lại tài liệu nói họ di cư đến đây khoảng 300 năm. Tuy nhiên theo các nhà xã học thì câu chuyện trên vẫn chỉ là các giả thuyết chưa sáng tỏ
Hiện người Mông xanh ở xã Nậm Xé có gần 80 hộ với hơn 300 khẩu, cùng ba dòng họ chính là họ Vàng, họ Giàng, họ Lý. Trước tình trạng hôn nhân cận huyết thống như trên, chính quyền ở đây đã vào cuộc bằng tuyên truyền vận động nhân dân xóa bỏ các hủ tục lạc hậu. Trai gái kết hôn phải đăng ký, nếu cùng dòng tộc chưa qua ba đời thì kiên quyết vận động  thực hiện hôn nhân theo đúng pháp luật. Từ đó nhận thức của người dân được nâng cao hiểu biết, nhiều người đã tham gia học tập công tác tại địa phương và giao lưu rộng như anh Lý A Tim cán bộ tư pháp xã Nậm Xé đã phá bỏ các hủ tục anh đã xây dựng gia đình với cô gái Tày xinh đẹp làm vợ. Từ năm 2008 đến nay tình trạng hôn nhân cận huyết đã được xoá bỏ. Trên bản Tu Thượng hôm nay đã thấp thoáng xuất hiện những cô gái thuộc các dân tộc khác về làm dâu và những sơn nữ Mông Tu Thượng cũng đã rời bản làm dâu sứ khác. Những thế hệ nối tiếp người Mông xanh tại Tu Thượng đã mang hai dòng máu. Thế hệ này sẽ kế tiếp cha ông xây dựng cuộc sống  của mình trên vùng đất dưới nóc nhà Đông Dương này ngày một ấm no, giầu đẹp. Tạm biệt bản Tu Thượng trong mây chiều bảng lảng, trong tiếng suối reo rộn rã của thượng nguồn đang ào ào tuôn chảy đổ vào nguồng quay tua bin của nhà máy thuỷ điện Nậm Khoá 3. Cuộc sống của người dân đang đổi thay hướng về ngày mới.
                                                 C.T.  4/2011

                                     

Bài đăng phổ biến